ĐIỂM LÂM SÀNG, HÌNH ẢNH NỘI SOI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA U HẠT MẤU THANH TÁI PHÁT SAU PHẪU THUẬT CÓ TRÀO NGƯỢC HỌNG THANH QUẢN
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và một số yếu tố liên quan của u hạt mấu thanh tái phát sau phẫu thuật có trào ngược họng thanh quản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 19 bệnh nhân được chẩn đoán u hạt mấu thanh tái phát sau phẫu thuật có trào ngược họng thanh quản tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 7/2024 đến tháng 7/2025. Các đặc điểm lâm sàng, điểm RSI, RFS và hình ảnh nội soi được thu thập và phân tích. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 48.2 ± 12.4 tuổi, 100% là nam. Phần lớn các bệnh nhân (52.6%) đã được phẫu thuật 1 lần, có 10.6% đã phẫu thuật ≥ 3 lần; 57.9% tái phát trong vòng 3 tháng đầu. Các triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là khàn tiếng, hắng giọng, cảm giác dị vật trong họng và tăng tiết dịch nhầy họng (100%). Điểm RSI trung bình là 19.37 ± 4.96; điểm RFS trung bình là 13.84 ± 2.14. U hạt chủ yếu gặp ở một bên (94.7%), ưu thế bên trái (68.4%), với phân độ hầu hết ở độ II và III. Các dấu hiệu nội soi của trào ngược họng thanh quản phổ biến nhất là xoá buồng thanh thất, sung huyết, phù nề dây thanh, thanh quản và phì đại mép sau (100%). Không ghi nhận mối liên quan giữa phân độ u hạt với điểm RSI, RFS và số lần phẫu thuật (p > 0.05). Kết luận: U hạt mấu thanh tái phát sau phẫu thuật có trào ngược họng thanh quản thường gặp ở nam giới trung niên, với tỷ lệ tái phát sớm cao. Bệnh có biểu hiện lâm sàng và nội soi điển hình của trào ngược họng thanh quản, tuy nhiên mức độ tổn thương không liên quan rõ ràng với các thang điểm trào ngược và số lần phẫu thuật trước đó
Từ khóa
U hạt mấu thanh tái phát sau phẫu thuật, trào ngược họng thanh quản, RSI
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
[2]. Hong-Gang D, He-Juan J, Chun-Quan Z, et al. Surgery and proton pump inhibitors for treatment of vocal process granulomas. Eur Arch Otorhinolaryngol 2013;270:2921–6. https://doi.org/10.1007/s00405-013-2527-8.
[3]. Rudman JR, McGee CS, Diaz J, et al. Assessing the utility of non-surgical treatments in the management of vocal process granulomas. J Laryngol Otol 2020;134:68–73. https://doi.org/10.1017/S0022215119002524.
[4]. Hoàng Thị Hoà Bình. Nghiên cứu hình thái lâm sàng của u hạt thanh quản qua nội soi và tìm hiểu các yếu tố nguy cơ. Luận văn thạc sĩ y học. Đại học Y Hà Nội, 2011.
[5]. Phạm Thanh Hương. Đánh giá kết quả điều trị nội khoa u hạt thanh quản tái phát sau phẫu thuật. Luận văn thạc sĩ y học. Đại học Y Hà Nội, 2015.
[6]. Wang C-P, Ko J-Y, Wang Y-H, et al. Vocal process granuloma – A result of long-term observation in 53 patients. Oral Oncology 2009;45:821–5. https://doi.org/10.1016/j.oraloncology.2009.01.008.
[7]. Jaroma M, Pakarinen L, Rouhiainen P, et al. How to Handle Vocal Cord Granuloma. Acta Oto-Laryngologica 1988. https://doi.org/10.3109/00016488809106363.
[8]. Nguyễn Thanh Bình. Nghiên cứu hình thái lâm sàng, mô bệnh học và kết quả điều trị u hạt thanh quản. Luận văn thạc sĩ y học. Đại học Y Hà Nội, 2012.
[9]. Hillel AT, Lin L-M, Samlan R, et al. Inhaled Triamcinolone with Proton Pump Inhibitor for Treatment of Vocal Process Granulomas: A Series of 67 Granulomas. Ann Otol Rhinol Laryngol 2010;119:325–30. https://doi.org/10.1177/000348941011900509.
[10]. Lee YS, Choi S-H, Son YI, et al. Prospective, observational study using rabeprazole in 455 patients with laryngopharyngeal reflux disease. Eur Arch Otorhinolaryngol 2011;268:863–9. https://doi.org/10.1007/s00405-010-1475-9.