ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI HOẠT NGHIỆM THANH QUẢN VÀ PHÂN TÍCH CHẤT THANH CỦA POLYP DÂY THANH

Phạm Thiện Trung1, , Đào Đình Thi2, Nguyễn Tuấn Sơn2, Nguyễn Thị Thúy Hằng3
1 Bệnh viện Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội – cơ sở Linh Đàm
2 Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương
3 Bệnh viện Nội Tiết Trung ương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, nội soi hoạt nghiệm thanh quản và phân tích chất thanh ở bệnh nhân polyp dây thanh. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 40 bệnh nhân được chẩn đoán polyp dây thanh tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 10/2024 đến tháng 8/2025. Các đặc điểm lâm sàng, nội soi hoạt nghiệm thanh quản và phân tích chất thanh được thu thập và phân tích. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 45.8, độ tuổi 41 – 50 chiếm tỉ lệ cao (42.5%), nam chiếm đa số (62.5%) và 57.5% thuộc nhóm nghề sử dụng giọng nói thường xuyên. Khàn tiếng là triệu chứng phổ biến nhất (100%). Tổn thương chủ yếu ở một bên dây thanh (92.5%). Trên nội soi hoạt nghiệm thấy giảm biên độ sóng (100%), mất đối xứng (80%) và khép thanh môn không kín (100%), với hình ảnh khe hở hình “đồng hồ cát” chiếm đa số (57.5%). Các thông số phân tích chất thanh có giá trị trung bình: jitter 1.28 ± 1.68%, shimmer 6.58 ± 5.19%, HNR 16.23 ± 4.77 dB. Kết luận: Polyp dây thanh thường gặp ở nam giới trung niên, đặc biệt trong nhóm nghề sử dụng giọng thường xuyên. Nội soi hoạt nghiệm và phân tích chất thanh cho thấy rối loạn tính ổn định trong hoạt động dây thanh phù hợp với tổn thương niêm mạc và dưới niêm mạc. Từ khoá: Polyp dây thanh; nội soi hoạt nghiệm thanh quản; phân tích chất thanh; jitter; shimmer; Harmonic-to-noise ratio; rối loạn giọng

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Kiagiadaki D. và cs. (2015), “The effect of voice rest on the outcome of phonosurgery for benign laryngeal lesions”, Annals of Otology, Rhinology & Laryngology, 124(5), 407–412. http://doi.org/ 10.1177/0003489414560583.
2. Lee Y. và cs. (2023), “The usefulness of multi voice evaluation for measuring voice recovery after endolaryngeal phonomicrosurgery”, Journal of Voice, 37(6), 951–956. http://doi.org/
10.1016/j.jvoice.2021.06.025.
3. Tài N. Đ. (2022), Đánh giá kết quả phẫu thuật u lành tính dây thanh bằng phương pháp vi phẫu thanh quản qua nội soi ống mềm, Luận văn Chuyên khoa Cấp II, Đại học Y Hà Nội.
4. Xương N. T. (2004), Nghiên cứu tình hình u lành tính dây thanh và đánh giá kết quả vi phẫu qua phân tích ngữ âm, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội.
5. Malik P. và cs. (2019), “The clinicopathological study of benign lesions of vocal cords”, Indian Journal of Otolaryngology and Head & Neck Surgery, 71(Suppl 1), 212–220. http://doi.org/ 10.1007/s12070-017-1240-0.
6. Filho J. M. I. và cs. (2013), “Characteristics of polypoid lesions in patients undergoing microsurgery of the larynx”, International Archives of Otorhinolaryngology, 17(3), 279–284. http://doi.org/10.7162/S1809-97772013000300008.
7. Nhung N. T. H., Dũng Đ. T., Anh N. Q. (2024), “Đánh giá kết quả điều trị polyp dây thanh bằng phẫu thuật kết hợp tiêm corticoid tại chỗ”, Tai Mũi Họng, 69(63), 13–24.
8. Tuấn N. T. (2021), Nghiên cứu đánh giá hiệu quả tiêm botulinum toxin qua nội soi trong điều trị rối loạn phát âm co thắt, Luận văn Tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Gray, C. L., Ludlow, R. D., & Kent, L. C. (2018). Measuring voice, speech, and swallowing in the clinic and laboratory. Plural Publishing, Inc.
10. Jonathan M. và cs. (2011), Maximum Phonation Time in Healthy Older Adults, Journal of Voice, Volume 25, Issue 6, 709 – 713. http://doi.org/10.1016/j.jvoice.2010.10.002.