ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, VI KHUẨN HỌC VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHI VIÊM TAI GIỮA CẤP TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, vi khuẩn học và nhận xét kết quả điều trị viêm tai giữa cấp mủ ở trẻ từ 0-6 tuổi tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp: mô tả loạt ca bệnh, thiết kế tiến cứu. Quá trình thu thập số liệu được tiến hành đồng thời với quá trình điều trị, thu thập thông tin về đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, tình trạng màng nhĩ, kết quả nuôi cấy dịch tai giữa, kháng sinh đồ và diễn biến điều trị từ khi đến khám hoặc nhập viện đến khi ra viện. Kết quả: Trẻ dưới 24 tháng chiếm 75,0%, trẻ nam 55,6%; 71,8% đã mắc bệnh từ 2 đợt trở lên. Các triệu chứng thường gặp là chảy dịch mũi (90,3%), ho (82,3%), đau tai/dụi tai (71,8%) và sốt (65,3%). Giai đoạn ứ mủ chiếm 78,2%, vỡ mủ/chảy mủ tai 21,8%. Trong 31 mẫu dịch tai giữa, 14 mẫu dương tính (45,2%), chủ yếu là H. influenzae (42,9%), S. pneumoniae (35,7%) và M. catarrhalis (14,3%). Tỷ lệ nuôi cấy dương tính cao hơn ở trẻ chưa sử dụng kháng sinh trước viện (81,8%) so với nhóm sử dụng theo đơn (28,6%) và tự mua (16,7%; p=0,014). Kháng sinh đồ ghi nhận tỷ lệ nhạy cảm cao với meropenem (87,5%) và chloramphenicol (76,9%), trong khi đề kháng cao với erythromycin, clindamycin (100,0%) và tetracycline (83,3%). Điều trị nội khoa đơn thuần chiếm 75,0%; 24,2% kết hợp chích rạch màng nhĩ và 0,8% đặt ống thông khí. Sau 48-72 giờ, 75,0% bệnh nhi cải thiện. Tại thời điểm ra viện, 100% được ghi nhận “khỏi”, không ghi nhận biến chứng hoặc trường hợp diễn biến nặng phải chuyển tuyến. Kết luận: Viêm tai giữa cấp mủ trong nghiên cứu gặp chủ yếu ở trẻ dưới 2 tuổi và thường đi kèm các triệu chứng nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. H. influenzae và S. pneumoniae là hai tác nhân chiếm tỷ lệ cao nhất trong các mẫu dịch tai giữa nuôi cấy dương tính. Phần lớn bệnh nhi đáp ứng thuận lợi với điều trị trong thời gian nằm viện/theo dõi tại cơ sở nghiên cứu.