Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh <p><strong>T&ecirc;n cơ quan chủ quản:</strong> Hội Tai mũi họng Việt Nam</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Địa chỉ: Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương, 78 Đường Giải Ph&oacute;ng, Quận Đống Đa, H&agrave; Nội;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Điện thoại: 04.63292572</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Fax: 04.38686522</p> <p><strong>T&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch:</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp; - Tuy&ecirc;n truyền, gi&aacute;o dục sức khoẻ ph&ograve;ng, chống c&aacute;c bệnh về tai mũi họng;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Phổ biến kiến thức mới v&agrave; giới thiệu c&aacute;c&nbsp;c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu khoa học trong v&agrave; ngo&agrave;i nước thuộc chuy&ecirc;n ng&agrave;nh tai mũi họng;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Th&ocirc;ng tin về c&aacute;c hoạt động của Hội tới c&aacute;c hội vi&ecirc;n.</p> <p><strong>Đối tượng phục vụ: </strong>Hội vi&ecirc;n Hội Tai mũi họng Việt Nam v&agrave; c&aacute;c bạn đọc quan t&acirc;m.</p> <p><strong>Phạm vi ph&aacute;t h&agrave;nh chủ yếu:</strong> Trong to&agrave;n quốc</p> <p>Thể thức xuất bản:</p> <p>&nbsp; &nbsp; - T&ecirc;n gọi: Tạp ch&iacute; Tai mũi họng.</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Ng&ocirc;n ngữ thể hiện: Tiếng Việt (một số b&agrave;i dịch sang tiếng Anh v&agrave; tiếng Ph&aacute;p);</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Kỳ hạn xuất bản: 02 th&aacute;ng/01 kỳ;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Khu&ocirc;n kh&ocirc;: 19cm x 27cm;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Số trang: 80 trang;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Số lượng: 1.000 bản/kỳ;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Nơi in: Tại H&agrave; Nội.</p> <p><strong>Phương thức ph&aacute;t h&agrave;nh:</strong> Qua Bưu điện v&agrave; tự ph&aacute;t h&agrave;nh.</p> <p><strong>L&atilde;nh đạo cơ quan b&aacute;o ch&iacute;:</strong> Tổng bi&ecirc;n tập: V&otilde; Thanh Quang.</p> vi-VN bientapdientutmh@gmail.com (Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam) hotro@vojs.vn (VOJS) Tue, 30 Jun 2026 00:00:00 +0700 OJS 3.2.1.1 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 TỔNG QUAN HIỆU QUẢ CÔNG NGHỆ PLASMA LẠNH TRONG ĐIỀU TRỊ LIỀN THƯƠNG https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/359 Mục tiêu: Nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về hiệu quả, cơ chế phân tử và tính an toàn của công nghệ Plasma lạnh áp suất khí quyển trong điều trị các loại vết thương cấp và mãn tính. Phương pháp: Tổng quan luận điểm. Kết quả: Công nghệ Plasma lạnh áp suất khí quyển thúc đẩy quá trình liền thương thông qua việc tiêu diệt vi khuẩn kháng thuốc, phá hủy màng sinh học, điều biến các cytokine gây viêm và kích hoạt các con đường tín hiệu tăng sinh tế bào như PI3K/AKT và MAPK thông qua protein kinase CK2. Các thử nghiệm lâm sàng ghi nhận CAP giúp giảm diện tích vết thương đáng kể (p<0,0001), giảm độ pH vết thương và cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân nhờ giảm đau rõ rệt. Kết luận: Công nghệ Plasma lạnh áp suất khí quyển là giải pháp điều trị không xâm lấn hiệu quả cho các vết thương khó lành, đặc biệt là loét bàn chân tiểu đường. Bùi Thị Khánh, Vũ Ngọc Quỳnh, Vũ Đức Kênh, Phạm Văn Hiệp Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/359 TỔNG QUAN CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÙNG ĐẦU CỔ https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/309 Mục tiêu: Hệ thống hóa các công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống đang được sử dụng cho bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ. Phương pháp: Tổng quan luận điểm. Kết quả: Tổng cộng 121 bài báo được xác định, sau sàng lọc và loại trừ, có 9 bài báo được đưa vào phân tích. Các công cụ đánh giá phổ biến nhất là EORTC QLQ-C30 và QLQ-H&N35. Các triệu chứng dai dẳng sau điều trị bao gồm khô miệng, khó nuốt, giảm tiết nước bọt và khó mở miệng. Một số nghiên cứu sử dụng công cụ đánh giá khách quan như HNC-FIT Scales. Các đánh giá được thực hiện tại nhiều thời điểm khác nhau, từ trước điều trị đến theo dõi dài hạn sau 3–5 năm. Kết luận: EORTC QLQ-C30/H&N35 là bộ công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ. Các triệu chứng như khô miệng, khó nuốt, giảm tiết nước bọt và khó mở miệng là những vấn đề dai dẳng sau điều trị. Việc kết hợp công cụ tự báo cáo và đánh giá khách quan giúp cải thiện độ chính xác và toàn diện trong đánh giá CLCS. Phùng Thị Hòa, Phạm Văn Hiệp, Nguyễn Bích Hường Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/309 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐAU ĐẦU DO ĐIỂM TIẾP XÚC MŨI XOANG BẰNG PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/333 Mở đầu: Đau đầu do điểm tiếp xúc vùng mũi là một hội chứng đau đầu thứ phát do điểm tiếp xúc niêm mạc vách ngăn và thành bên vách mũi xoang, hay gặp là cuốn mũi giữa. Can thiệp ngoại khoa được chỉ định khi người bệnh không đáp ứng điều trị nội khoa. Mục tiêu: đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi trong điều trị đau đầu do điểm tiếp xúc mũi xoang. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 45 bệnh nhân có triệu chứng đau đầu do điểm tiếp xúc mũi xoang, được điều trị bằng phẫu thuật từ tháng 5/2022 đến tháng 5/2025 tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Trung ương Huế. Kết quả:Phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn đơn thuần chiếm tỷ lệ 37,8%. Sau phẫu thuật 3 tháng, 6 tháng tỷ lệ bệnh nhân hết đau đầu lần lượt là 80% và 91,1%. Kết luận: Phẫu thuật nội soi là phương pháp điều trị mang kết quả tốt trong điều trị đau đầu do điểm tiếp xúc mũi xoang. Trần Phương Nam, Lê Chí Thông, Lê Viết Thanh, Tạ Lê Quyên, Phan Ngô Huy Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/333 MỐI LIÊN QUAN GIỮA BỆNH LÝ CỘT SỐNG CỔ VÀ TAI MŨI HỌNG https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/336 Bệnh lý cột sống cổ thường được nghiên cứu chủ yếu trong lĩnh vực cơ xương khớp và thần kinh. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy cột sống cổ có mối liên quan chặt chẽ với các biểu hiện Tai Mũi Họng như ù tai, chóng mặt, đau tai tham chiếu và khó nuốt. Mục tiêu: Tổng hợp và phân tích các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm mô tả mối liên quan giữa bệnh lý cột sống cổ và các biểu hiện Tai Mũi Họng. Phương pháp: Nghiên cứu tổng quan hệ thống (systematic review) các bài báo được công bố giai đoạn 2015–2025 trên PubMed, Scopus, Google Scholar. Các nghiên cứu được chọn có nội dung liên quan đến mối liên hệ giữa bệnh lý cột sống cổ và triệu chứng Tai Mũi Họng, bao gồm đặc điểm lâm sàng, cơ chế thần kinh – mạch máu, và hướng điều trị phối hợp. Kết quả: Các nghiên cứu cho thấy thoái hóa, thoát vị đĩa đệm cổ và thiếu máu động mạch đốt sống có thể gây ra nhiều triệu chứng Tai Mũi Họng. Cơ chế bệnh sinh chủ yếu là do thiếu máu vùng tiền đình – thính giác, rối loạn cảm giác bản thể vùng cổ và kích thích các rễ thần kinh cổ C1–C3. Triệu chứng thường gặp gồm ù tai, chóng mặt, đau tai, đau đầu vùng chẩm, khó nuốt và khàn tiếng. Kết luận: Bệnh lý cột sống cổ có thể gây hoặc làm nặng thêm các triệu chứng Tai Mũi Họng. Việc phối hợp đa chuyên khoa giữa Tai Mũi Họng, Thần kinh và Cột sống giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị, đồng thời cải thiện chất lượng sống của người bệnh. Bùi Khắc Đức, Nguyễn Ngọc Hà Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/336 TỔNG QUAN MỐI LIÊN QUAN GIỮA UNG THƯ THỰC QUẢN VÀ THÓI QUEN ĂN UỐNG NÓNG https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/337 Mục tiêu: Tổng quan luận điểm này nhằm đánh giá có hệ thống mối liên quan giữa thói quen tiêu thụ đồ uống và thực phẩm nóng với nguy cơ mắc Ung thư thực quản. Phương pháp: Chúng tôi tiến hành Tổng quan luận điểm bằng cách tổng hợp và phân tích dữ liệu từ các nghiên cứu. Kết quả: Phân tích gộp cho thấy việc uống trà nóng có mối liên hệ đáng kể với việc tăng nguy cơ Ung thư thực quản. Mối liên hệ này đặc biệt mạnh mẽ đối với Ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản. Kết luận: Thói quen tiêu thụ đồ uống và thực phẩm nóng làm tăng đáng kể nguy cơ mắc Ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản, đặc biệt ở các quần thể Châu Á và Nam Mỹ. Thay đổi các thói quen ăn uống (bao gồm giảm nhiệt độ tiêu thụ, ăn chậm và tránh ăn quá no) là biện pháp phòng ngừa tiềm năng quan trọng đối với Ung thư thực quản. Nguyễn Bích Hường, Nguyễn Thị Thanh Trà, Phạm Thị Hằng, Phùng Thị Hòa, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Phạm Văn Hiệp Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/337 PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM “CỤM TRIỆU CHỨNG” TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/338 Phân tích khái niệm này nhằm làm rõ khái niệm “Cụm triệu chứng” – một nhóm ổn định gồm hai hoặc nhiều triệu chứng cùng tồn tại, có mối liên hệ tương tác với nhau và khác biệt với các cụm triệu chứng khác. Khái niệm “Cụm triệu chứng” là một công cụ thiết yếu, giúp điều dưỡng chuyển đổi từ việc quản lý triệu chứng đơn lẻ sang quản lý đa triệu chứng. Mặc dù khái niệm “Cụm triệu chứng” đã được nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt trong chăm sóc ung thư, việc định nghĩa vẫn còn mơ hồ, gây cản trở cho việc ứng dụng lâm sàng. Áp dụng mô hình phân tích khái niệm, “Cụm triệu chứng” được xác định bởi các thuộc tính cốt lõi bao gồm tính đồng tồn tại, mối quan hệ tương tác hoặc căn nguyên chung, tính ổn định và tính liên quan lâm sàng. Việc xác định “Cụm triệu chứng” có hậu quả lâm sàng nghiêm trọng, bao gồm giảm chất lượng cuộc sống, giảm khả năng sống sót và tăng tỷ lệ tử vong. Do đó, việc làm rõ khái niệm “Cụm triệu chứng” rất quan trọng để điều dưỡng có thể thực hiện đánh giá toàn diện hơn (nhờ các triệu chứng cảnh báo) và áp dụng các can thiệp hiệu quả (như liệu pháp không dùng thuốc) nhằm quản lý đồng thời nhiều triệu chứng thông qua một hành động can thiệp duy nhất. Nguyễn Thị Thanh Trà, Nguyễn Bích Hường, Hoàng Ngọc Phương, Nguyễn Du Khánh, Phạm Thị Hằng, Phan Thị Hoài, Lê Tự Minh Hoàng, Phạm Thị Phương, Phùng Thị Hòa, Tạ Minh Trang, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Phạm Văn Hiệp Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/338 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐA PHƯƠNG THỨC ĐỐI VỚI QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG TẠI VIỆT NAM https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/373 Ung thư vòm mũi họng tại Việt Nam vẫn thường được phát hiện muộn do triệu chứng sớm nghèo nàn, tổn thương khó nhận diện và sự phân tán thông tin giữa nội soi, chẩn đoán hình ảnh và dấu ấn sinh học. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của trí tuệ nhân tạo đa phương thức - tích hợp dữ liệu nội soi, CT/MRI và EBV-DNA - đối với hiệu quả chẩn đoán, quy trình ra quyết định lâm sàng và khả năng triển khai tại một số cơ sở y tế ở Việt Nam. Nghiên cứu thiết kế hỗn hợp, kết hợp khảo sát thực trạng, phân tích hồi cứu - tiến cứu trên 256 bệnh nhân và đối chiếu mô hình chẩn đoán truyền thống với mô hình hỗ trợ bởi AI. Kết quả cho thấy AI đa phương thức làm tăng tỷ lệ phát hiện giai đoạn I-II từ 28,9% lên 46,5% (p<0,001), giảm tỷ lệ bỏ sót tổn thương nhỏ dưới 1 cm từ 18,7% xuống 6,2% (p<0,001), rút ngắn thời gian từ khám đầu tiên đến chẩn đoán xác định từ 28,4 xuống 16,7 ngày (p<0,001), đồng thời nâng tỷ lệ chỉ định sinh thiết đúng từ 72,3% lên 88,7%. Mô hình đa phương thức đạt độ nhạy 96,5%, độ đặc hiệu 90,2%, độ chính xác 93,8% và AUC 0,97. AI cũng làm thay đổi quyết định chẩn đoán ở 22,3% trường hợp, tăng đồng thuận chỉ định sinh thiết của bác sĩ từ 68,5% lên 87,9% và cho thấy khả năng triển khai khả quan tại các bệnh viện có hạ tầng số hóa tốt. Kết luận: trí tuệ nhân tạo đa phương thức không chỉ cải thiện hiệu quả kỹ thuật mà còn tạo ra thay đổi thực chất trong quy trình chẩn đoán UTVMH, mở ra triển vọng chuẩn hóa và phát hiện sớm tại Việt Nam. Phạm Thị Bích Đào, Phạm Huy Tần, Khổng Văn Đông, Trần Văn Tâm, Lê Minh Đạt, Bùi Thị Mai, Nguyễn Diệu My, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Thị Hằng, Tống Xuân Thắng, Phạm Trần Anh , Phạm Thị Bích Thủy, Nguyễn Thi Anh Đào, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Phan Xuân Nam, Hoàng Hữu Trường, Đinh Tuấn Anh, Trần Hải Yến, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Thanh Thủy, Nguyễn Quang Tuyến Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/373 KẾT QUẢ CHĂM SÓC CỦA ĐIỀU DƯỠNG: PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/340 Khái niệm “Kết quả chăm sóc” là thước đo cuối cùng và đa chiều về chất lượng chăm sóc điều dưỡng. Phân tích này sử dụng mô hình Walker và Avant để làm rõ khái niệm, tập trung vào sự thay đổi trạng thái của người bệnh sau can thiệp. Các thuộc tính cốt lõi bao gồm: Cải thiện chức năng và lâm sàng đã được định lượng, đạt được chỉ số an toàn và hiệu suất cao (rút ngắn thời gian nằm viện, giảm biến chứng), và cải thiện trải nghiệm chủ quan (sự hài lòng và chất lượng cuộc sống). Tiền đề quan trọng để đạt được kết quả tốt là chất lượng giáo dục sức khỏe và tình trạng tâm lý/kinh tế ổn định của người bệnh. Kết quả chăm sóc tốt là mục tiêu tối thượng, dẫn đến sự phục hồi hoàn toàn và sự hài lòng cao của người bệnh. Phan Thị Hoài, Phạm Văn Hiệp, Nguyễn Bích Hường, Hoàng Ngọc Phương, Nguyễn Du Khánh, Nguyễn Thị Thanh Trà, Phạm Thị Hằng, Lê Tự Minh Hoàng, Phạm Thị Phương Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/340 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ù TAI Ở BỆNH NHÂN ĐIẾC ĐỘT NGỘT TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG. https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/360 Ù tai là triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân điếc đột ngột và có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mức độ ù tai ở bệnh nhân điếc đột ngột điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 75 bệnh nhân điếc đột ngột vô căn điều trị nội trú từ tháng 02/2025 đến tháng 07/2025, trong đó 58 bệnh nhân có triệu chứng ù tai được đánh giá bằng thang điểm Tinnitus Handicap Inventory (THI). Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 46.43 ± 15.18; nữ chiếm 55.2%. Điểm THI trung bình là 77.22 ± 21.15. Mức độ ù tai trầm trọng chiếm tỷ lệ cao nhất (60.3%), tiếp theo là mức độ nặng (27.6%). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của điểm THI theo tuổi, giới, triệu chứng chóng mặt, bệnh nội khoa kèm theo hoặc mức độ nghe kém (p > 0.05). Tuy nhiên điểm THI có sự khác biệt giữa các nhóm hình dạng thính lực đồ (p = 0.026). Kết luận: điểm THI có giá trị trong việc đánh giá triệu chứng ù tai của bệnh nhân điếc đột ngột Ngô Thị Như, Nguyễn Hoàng Huy, Lê Thị Thu Hà, Lê Tuấn Nhật Hoàng, Bùi Thế Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/360 TỔNG QUAN VỀ U TUYẾN MANG TAI https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/374 U tuyến mang tai là một nhóm đa dạng các khối u của tuyến nước bọt và có ý nghĩa lâm sàng quan trọng do mối liên quan mật thiết với dây thần kinh mặt cũng như phổ mô bệnh học rất rộng. Mặc dù tương đối ít gặp trong cộng đồng, tuyến mang tai lại là vị trí thường gặp nhất trong các khối u tuyến nước bọt. Dữ liệu dịch tễ học quần thể cho thấy tỷ lệ mắc chung ước tính của u tuyến mang tai khoảng 4,8/100.000 người-năm khi ngoại suy từ tỷ lệ mắc u tuyến nước bọt và phân bố theo vị trí, trong khi tỷ lệ ung thư tuyến mang tai thấp hơn (ví dụ khoảng 0,794/100.000 người-năm trong các phân tích dựa trên SEER). Mục tiêu: Bài tổng quan này nhằm tổng hợp các bằng chứng về dịch tễ học, biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, đặc điểm mô bệnh học, kết quả/biến chứng phẫu thuật và tỷ lệ tái phát của các khối u tuyến mang tai. Phương pháp: Thực hiện tổng quan tài liệu có cấu trúc dựa trên các nghiên cứu đã công bố về u tuyến mang tai và các u tuyến nước bọt có dữ liệu riêng cho tuyến mang tai. Bằng chứng được hệ thống theo các nhóm chủ đề: (1) tỷ lệ mắc/dịch tễ học; (2) biểu hiện lâm sàng và các “dấu hiệu báo động” gợi ý ác tính (ví dụ: đau, rối loạn chức năng dây thần kinh mặt, tăng kích thước nhanh); (3) chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, CT, MRI và các kỹ thuật MRI nâng cao như DWI/DCE); (4) mô bệnh học của các tổn thương lành tính và ác tính thường gặp; (5) kết quả và biến chứng sau mổ; và (6) kiểu hình tái phát. Các kết quả định lượng quan trọng được báo cáo trong các nghiên cứu đã được trích xuất và tóm tắt. Kết quả: Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là khối vùng tuyến mang tai, được ghi nhận ở tới 90,8% bệnh nhân trong một đoàn hệ phẫu thuật lớn. Các dấu hiệu kinh điển gợi ý ác tính trên lâm sàng như phát triển nhanh, thâm nhiễm/loét da, hạch cổ, đau, liệt dây thần kinh mặt có thể không xuất hiện ở thời điểm đánh giá ban đầu trong một tỷ lệ đáng kể trường hợp. Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò then chốt trong phân tầng nguy cơ và lập kế hoạch phẫu thuật. MRI cho thấy khả năng phân biệt u lành – ác cao hơn siêu âm (AUC 0,899 so với 0,702), và phối hợp siêu âm với MRI đạt độ đặc hiệu cao (94,8%) cùng giá trị tiên đoán âm cao. Mô bệnh học vẫn là tiêu chuẩn tham chiếu, bao gồm các u lành tính thường gặp như u tuyến đa hình, u Warthin, cũng như nhiều thể ác tính đa dạng như carcinôm biểu bì nhầy, carcinôm nang tuyến, carcinôm tế bào nang và carcinôm trên nền u tuyến đa hình. Phẫu thuật vẫn là nền tảng điều trị; tỷ lệ biến chứng gộp sau phẫu thuật tuyến mang tai bao gồm tụ máu 2,9%, nhiễm trùng vết mổ 2,3%, tụ nước bọt 4,5%, rò nước bọt 3,1% và rối loạn cảm giác 33,9%. Các di chứng muộn như hội chứng Frey có thể gặp với tần suất đáng kể. Tỷ lệ tái phát nhìn chung thấp đối với u lành tính nhưng thay đổi tùy theo kỹ thuật phẫu thuật và loại mô bệnh học; tỷ lệ tái phát cao hơn rõ rệt đã được ghi nhận ở các thể ác tính như carcinôm trên nền u tuyến đa hình. Kết luận: U tuyến mang tai đòi hỏi cách tiếp cận chẩn đoán toàn diện vì các dấu hiệu lâm sàng đơn thuần không phải lúc nào cũng loại trừ được ác tính một cách tin cậy. Siêu âm hữu ích trong đánh giá ban đầu, trong khi MRI—đặc biệt khi phối hợp với siêu âm và các chuỗi xung nâng cao—giúp cải thiện khả năng phân biệt trước mổ và xác định giải phẫu tổn thương. Phẫu thuật nhìn chung đem lại kết quả thuận lợi, nhưng cần tư vấn đầy đủ cho người bệnh về nguy cơ tổn thương liên quan đến dây thần kinh mặt, rối loạn cảm giác, hội chứng Frey và nguy cơ tái phát. Cần có thêm các nghiên cứu chất lượng cao, chuẩn hóa để tối ưu hóa quy trình chẩn đoán và so sánh các kỹ thuật phẫu thuật dựa trên kết quả ung thư học và chức năng lâu dài. Nguyễn Tuyết Xương; Phùng Thị Hòa; Nguyễn Như Đua, Nguyễn Kim Quân, Nguyễn Văn Điền, Hoàng Văn Phức, Vũ Văn Tài, Hoàng Lan, Nguyễn Huy Tú, Phạm Thiện Trung Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/374 HIỆU QUẢ CHĂM SÓC TRONG LĨNH VỰC ĐIỀU DƯỠNG: PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/341 Hiệu quả chăm sóc là khái niệm trung tâm để đánh giá chất lượng và sự thành công của các can thiệp điều dưỡng. Phân tích này nhằm làm rõ khái niệm trên thông qua mô hình Walker và Avant. Hiệu quả chăm sóc được xác định dựa trên việc thực hiện chính xác, tuân thủ quy trình kỹ thuật, cung cấp chăm sóc toàn diện, và thúc đẩy sự hợp tác của người bệnh. Các thuộc tính cốt lõi bao gồm: Chăm sóc chuẩn hóa và chính xác, chăm sóc toàn diện (thể chất và tâm lý), và thúc đẩy sự hợp tác. Tiền đề quan trọng bao gồm chất lượng giáo dục sức khỏe và tình trạng tâm lý/kinh tế ổn định của người bệnh. Hậu quả của hiệu quả chăm sóc là sự cải thiện rõ rệt về kết quả lâm sàng/chức năng, rút ngắn thời gian nằm viện, và nâng cao sự hài lòng của người bệnh. Phân tích này cung cấp cơ sở lý thuyết cho việc phát triển các chiến lược điều dưỡng nhằm tối ưu hóa kết quả điều trị. Phạm Thị Hằng, Phạm Văn Hiệp, Nguyễn Bích Hường, Hoàng Ngọc Phương, Nguyễn Du Khánh, Nguyễn Thị Thanh Trà, Phan Thị Hoài, Lê Tự Minh Hoàng, Phạm Thị Phương Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/341 TỔNG QUAN VỀ U DÂY THẦN KINH SỐ VIII https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/361 U dây thần kinh tiền đình (u dây VIII, vestibular schwannoma) là một khối u lành tính độ I theo WHO, phát sinh từ tế bào Schwann, thường gặp nhất ở ống tai trong và góc cầu tiểu não, có thể gây giảm thính lực, rối loạn thăng bằng và các biến chứng thần kinh khi khối u lớn. Dữ liệu dân số từ CBTRUS (Hoa Kỳ, giai đoạn 2004–2016) ghi nhận tỷ lệ mắc là 0,82–5,2/100.000 dân, trong đó chủ yếu là u một bên (~99,2%) và hiếm gặp u hai bên (~0,8%); bệnh lý hai bên gợi ý NF2 và làm cho việc điều trị trở nên phức tạp hơn. Mục tiêu: Tổng hợp các bằng chứng về dịch tễ học, vị trí khối u, chỉ định phẫu thuật, các đường tiếp cận phẫu thuật, kết quả bảo tồn dây thần kinh mặt và thính lực, biến chứng, cũng như vai trò của cấy điện thính giác thân não (ABI) trong điều trị u dây thần kinh tiền đình. Phương pháp: Thực hiện tổng quan tài liệu có cấu trúc. Dữ liệu được trích xuất và tổng hợp từ các nghiên cứu lâm sàng, phân tích gộp và loạt ca bệnh, sau đó được hệ thống thành các bảng bằng chứng bao gồm: dịch tễ học, đặc điểm khối u, chỉ định phẫu thuật, các đường tiếp cận phẫu thuật, kết quả sau mổ, biến chứng và kết quả của phẫu thuật cắt u kết hợp cấy ABI. Kết quả: Các chỉ định phẫu thuật thường gặp bao gồm khối u ≥3–4 cm hoặc Koos III–IV, tăng kích thước >2–3 mm/năm trên MRI, chèn ép thân não hoặc não thất IV, triệu chứng thần kinh tiến triển, u nang, thất bại của xạ phẫu/theo dõi bảo tồn, hoặc bối cảnh NF2. Các tổng hợp so sánh cho thấy đường mổ xuyên mê nhĩ (translabyrinthine) trong một số phân tích có thể liên quan đến thời gian nằm viện ngắn hơn và kết quả bảo tồn dây thần kinh mặt tốt hơn so với đường sau xoang sigma (retrosigmoid), tuy nhiên việc lựa chọn đường mổ còn phụ thuộc vào kích thước, vị trí khối u và mục tiêu bảo tồn thính lực. Các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn ghi nhận tỷ lệ bảo tồn dây thần kinh mặt (House–Brackmann I–II) khoảng 82–93% và tỷ lệ bảo tồn thính lực (AAO-HNS loại A–B) khoảng 42–61%, thay đổi tùy theo tình trạng nghe trước mổ và đặc điểm quần thể bệnh nhân. Các biến chứng thường được báo cáo bao gồm liệt mặt và rò dịch não tủy, trong đó rò dịch não tủy thường chiếm khoảng 3–5% trong một số loạt ca, còn y văn chung ghi nhận dao động từ 0–13,5%. Ở bệnh nhân NF2, phẫu thuật cắt u kết hợp cấy điện thính giác thân não (ABI) có thể cải thiện các chỉ số liên quan đến nghe trong một số báo cáo chọn lọc, ví dụ cải thiện ngưỡng nghe PTA và tỷ lệ sử dụng ABI sau 1 năm. Kết luận: Khi có chỉ định phù hợp, phẫu thuật u dây thần kinh tiền đình có thể đạt tỷ lệ bảo tồn dây thần kinh mặt cao và kiểm soát u tốt. Cần chuẩn hóa việc báo cáo kết quả bằng các thang điểm HB và AAO-HNS, tối ưu hóa phòng ngừa và xử trí biến chứng, đồng thời cân nhắc ABI ở bệnh nhân NF2 hoặc khi chức năng dây thần kinh ốc tai không còn được bảo tồn. Nguyễn Tuyết Xương, Nguyễn Quang Hùng, Đoàn Trung Hiếu, Nguyễn Ngọc Hà, Nguyễn Như Đua, Nguyễn Hoàng Huy, Nguyễn Tuấn Sơn, Phùng Thi Hòa, Đào Đình Thi, Đào Đình Thi Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/361 CHÁNH NIỆM TRONG ĐIỀU DƯỠNG: PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/346 Phân tích này nhằm làm rõ khái niệm “Chánh niệm trong Điều dưỡng” bằng cách áp dụng mô hình phân tích khái niệm. Khái niệm này đề cập đến trạng thái tâm lý và thực hành tập trung sự chú ý một cách có chủ đích, không phán xét vào khoảnh khắc hiện tại. Các thuộc tính cốt lõi của Chánh niệm bao gồm nhận thức tập trung vào hiện tại, thái độ không phán xét và chấp nhận, khả năng tự điều chỉnh cảm xúc và nhận thức, cùng với ứng dụng trong thực hành Điều dưỡng (đồng cảm và tự chăm sóc). Các can thiệp dựa trên chánh niệm đã chứng minh hiệu quả đáng kể trong việc giảm bớt căng thẳng, lo âu, trầm cảm và kiệt sức nghề nghiệp ở sinh viên và nhân viên điều dưỡng. Ngoài ra, Chánh niệm còn thúc đẩy lòng từ bi/đồng cảm và khả năng phục hồi. Mặc dù tính nhất quán về hiệu quả của nó đối với trầm cảm có thể không cao bằng đối với stress và lo âu, Chánh niệm vẫn là một công cụ nền tảng, không thể thiếu, giúp cải thiện sức khỏe tâm lý và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân trong bối cảnh điều dưỡng đầy thách thức. Phạm Văn Hiệp, Nguyễn Bích Hường, Phùng Thị Hoà Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/346 TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM VỀ RỬA MŨI BẰNG CORTICOID SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG Ở BỆNH NHÂN VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/385 Đặt vấn đề: Viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT) là bệnh lý phổ biến (5-12% dân số), ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Khi điều trị nội khoa thất bại, phẫu thuật nội soi mũi xoang (PTNSMX) được chỉ định, nhưng kết quả phụ thuộc nhiều vào chăm sóc hậu phẫu. Sử dụng corticosteroid tại chỗ dạng rửa mũi thể tích lớn sau mổ cho thấy tiềm năng kiểm soát viêm và ngăn ngừa tái phát. Tuy nhiên, phương pháp này chưa được FDA phê duyệt chính thức, bằng chứng về tính an toàn và hiệu quả còn chưa đầy đủ, đặc biệt tại Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tổng quan hiệu quả và tính an toàn của phương pháp rửa mũi bằng corticosteroid sau PTNSMX ở bệnh nhân VMXMT. Mục tiêu: mô tả hiệu quả và tính an toàn của phương pháp trên. Phương pháp nghiên cứu: Tổng quan luận điểm theo hướng dẫn PRISMA. Tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu PubMed, Cochrane, Rhinology Journal và thư viện Đại học Y Hà Nội từ năm 2010 đến 2025. Tiêu chí lựa chọn: nghiên cứu về rửa mũi corticosteroid thể tích lớn sau PTNSMX điều trị VMXMT. Loại trừ các tổng quan, phân tích gộp, luận văn, báo cáo ca bệnh. Hai mươi nghiên cứu (894 bệnh nhân) được đưa vào phân tích. Kết quả: Đa số các nghiên cứu cho thấy rửa mũi corticosteroid cải thiện điểm SNOT-22 và LKES tốt hơn có ý nghệ thống kê so với rửa nước muối đơn thuần (6/7 nghiên cứu) và so với xịt mũi corticosteroid (3/4 nghiên cứu). Về an toàn, sử dụng ngắn hạn (≤3 tháng) không gây ức chế trục HPA. Sử dụng dài hạn (>12 tháng) ghi nhận ức chế HPA không triệu chứng ở 23% bệnh nhân (nghiên cứu Soudry 2016), đặc biệt khi phối hợp với corticosteroid dạng hít hen (OR=30,4). Không có thay đổi nhãn áp có nghĩa lâm sàng. Liều budesonide lưu lại sau rửa là 37,9% liều ban đầu. Kết luận: Rửa mũi corticosteroid sau phẫu thuật nội soi mũi xoang cải thiện chất lượng cuộc sống và điểm số nội soi, đặc biệt ở bệnh nhân có polyp mũi hoặc viêm mũi xoang tăng bạch cầu ái toan, đồng thời không làm tăng nhãn áp trên lâm sàng. Cần thận trọng và theo dõi ức chế trục HPA ở bệnh nhân sử dụng đồng thời nhiều đường corticosteroid khác (như hít hen). Cần cá thể hóa điều trị dựa trên thể bệnh, bệnh đồng mắc và tổng liều corticosteroid. Nguyễn Đức Hưng, Phạm Tuấn Cảnh Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/385 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẾN KHÁM MUỘN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG TẠI TUYẾN TỈNH https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/396 Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phân tích thứ cấp trên 2.118 bệnh nhân ung thư vòm mũi họng tại ba bệnh viện tỉnh và khảo sát chẩn đoán tại 05 bệnh viện. Kết quả cho thấy 89,5% bệnh nhân đến khám muộn sau 6 tháng; 63,9% được chẩn đoán ở giai đoạn III–IV; 51,6% có ù tai một bên. Tuyến tỉnh có tỷ lệ sử dụng MRI thường quy, đọc kép và hội chẩn đa chuyên khoa thấp hơn tuyến Trung ương, lần lượt 20,0% so với 74,3%, 20,0% so với 51,4% và 20,0% so với 60,0%. Đến khám muộn liên quan đến triệu chứng ban đầu không đặc hiệu, nhận diện chưa đầy đủ dấu hiệu cảnh báo và hạn chế về phương tiện, quy trình chẩn đoán tại tuyến tỉnh. Cần cải thiện sàng lọc ban đầu ở người trưởng thành có ù tai, nghe kém, ngạt mũi một bên, chảy máu mũi tái diễn, đau đầu hoặc hạch cổ kéo dài. Phạm Bích Đào, Phạm Huy Tần, Khổng Văn Đông, Trần Văn Tâm, Lê Minh Đạt, Bùi Thị Mai, Nguyễn Diệu Vy, Nguyễn Thị Hằng, Tống Xuân Thắng, Phạm Trần Anh , Phạm Thị Bích Thủy, Nguyễn Mạnh Minh, Nguyễn Thi Anh Đào, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Phan Xuân Nam, Hoàng Hữu Trường, Đinh Tuấn Anh, Trần Hải Yến, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Thi Thanh Thủy, Bùi Quang Tuyến Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/396 ĐẶC ĐIỂM ÂM ỐC TAI Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/403 Mục tiêu: khảo sát kết quả đo âm ốc tai và một số yêu tố liên quan đến âm ốc tai ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2024 – 2025. Đối tượng và phương pháp: mô tả cắt ngang tiến cứu với tất cả trẻ sơ sinh được sinh ra và đo âm ốc tai tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ 11/2024 đến 11/2025. Kết quả: trên 443 trẻ sơ sinh ghi nhận tỷ lệ nữ chiếm 52,82%; Đa số trẻ sơ sinh có cân nặng từ 2,5–3,5 kg (82,39%); Tỷ lệ trẻ đạt kết quả đo âm ốc tai lần 1 là 88,49%; có 100% trẻ đạt kết quả khi đo lần 2; Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi thai, cân nặng lúc sinh với kết quả đo âm ốc tai lần 1. Kết luận: Đo âm ốc tai có giá trị trong sàng lọc thính lực sơ sinh. Nghiên cứu cũng bổ sung dữ liệu về sàng lọc thính lực bằng phương pháp đo âm ốc tai tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nguyễn Triều Việt, Trang Hồng Hạnh, Đỗ Hội Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/403