Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh <p><strong>T&ecirc;n cơ quan chủ quản:</strong> Hội Tai mũi họng Việt Nam</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Địa chỉ: Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương, 78 Đường Giải Ph&oacute;ng, Quận Đống Đa, H&agrave; Nội;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Điện thoại: 04.63292572</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Fax: 04.38686522</p> <p><strong>T&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch:</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp; - Tuy&ecirc;n truyền, gi&aacute;o dục sức khoẻ ph&ograve;ng, chống c&aacute;c bệnh về tai mũi họng;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Phổ biến kiến thức mới v&agrave; giới thiệu c&aacute;c&nbsp;c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu khoa học trong v&agrave; ngo&agrave;i nước thuộc chuy&ecirc;n ng&agrave;nh tai mũi họng;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Th&ocirc;ng tin về c&aacute;c hoạt động của Hội tới c&aacute;c hội vi&ecirc;n.</p> <p><strong>Đối tượng phục vụ: </strong>Hội vi&ecirc;n Hội Tai mũi họng Việt Nam v&agrave; c&aacute;c bạn đọc quan t&acirc;m.</p> <p><strong>Phạm vi ph&aacute;t h&agrave;nh chủ yếu:</strong> Trong to&agrave;n quốc</p> <p>Thể thức xuất bản:</p> <p>&nbsp; &nbsp; - T&ecirc;n gọi: Tạp ch&iacute; Tai mũi họng.</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Ng&ocirc;n ngữ thể hiện: Tiếng Việt (một số b&agrave;i dịch sang tiếng Anh v&agrave; tiếng Ph&aacute;p);</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Kỳ hạn xuất bản: 02 th&aacute;ng/01 kỳ;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Khu&ocirc;n kh&ocirc;: 19cm x 27cm;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Số trang: 80 trang;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Số lượng: 1.000 bản/kỳ;</p> <p>&nbsp; &nbsp; - Nơi in: Tại H&agrave; Nội.</p> <p><strong>Phương thức ph&aacute;t h&agrave;nh:</strong> Qua Bưu điện v&agrave; tự ph&aacute;t h&agrave;nh.</p> <p><strong>L&atilde;nh đạo cơ quan b&aacute;o ch&iacute;:</strong> Tổng bi&ecirc;n tập: V&otilde; Thanh Quang.</p> Vietnam Journal of Otorhinolaryngology - Head and Neck Surgery vi-VN Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam 1859-3704 TỔNG QUAN VỀ U DÂY THẦN KINH SỐ VIII https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/361 U dây thần kinh tiền đình (u dây VIII, vestibular schwannoma) là một khối u lành tính độ I theo WHO, phát sinh từ tế bào Schwann, thường gặp nhất ở ống tai trong và góc cầu tiểu não, có thể gây giảm thính lực, rối loạn thăng bằng và các biến chứng thần kinh khi khối u lớn. Dữ liệu dân số từ CBTRUS (Hoa Kỳ, giai đoạn 2004–2016) ghi nhận tỷ lệ mắc là 0,82–5,2/100.000 dân, trong đó chủ yếu là u một bên (~99,2%) và hiếm gặp u hai bên (~0,8%); bệnh lý hai bên gợi ý NF2 và làm cho việc điều trị trở nên phức tạp hơn. Mục tiêu: Tổng hợp các bằng chứng về dịch tễ học, vị trí khối u, chỉ định phẫu thuật, các đường tiếp cận phẫu thuật, kết quả bảo tồn dây thần kinh mặt và thính lực, biến chứng, cũng như vai trò của cấy điện thính giác thân não (ABI) trong điều trị u dây thần kinh tiền đình. Phương pháp: Thực hiện tổng quan tài liệu có cấu trúc. Dữ liệu được trích xuất và tổng hợp từ các nghiên cứu lâm sàng, phân tích gộp và loạt ca bệnh, sau đó được hệ thống thành các bảng bằng chứng bao gồm: dịch tễ học, đặc điểm khối u, chỉ định phẫu thuật, các đường tiếp cận phẫu thuật, kết quả sau mổ, biến chứng và kết quả của phẫu thuật cắt u kết hợp cấy ABI. Kết quả: Các chỉ định phẫu thuật thường gặp bao gồm khối u ≥3–4 cm hoặc Koos III–IV, tăng kích thước >2–3 mm/năm trên MRI, chèn ép thân não hoặc não thất IV, triệu chứng thần kinh tiến triển, u nang, thất bại của xạ phẫu/theo dõi bảo tồn, hoặc bối cảnh NF2. Các tổng hợp so sánh cho thấy đường mổ xuyên mê nhĩ (translabyrinthine) trong một số phân tích có thể liên quan đến thời gian nằm viện ngắn hơn và kết quả bảo tồn dây thần kinh mặt tốt hơn so với đường sau xoang sigma (retrosigmoid), tuy nhiên việc lựa chọn đường mổ còn phụ thuộc vào kích thước, vị trí khối u và mục tiêu bảo tồn thính lực. Các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn ghi nhận tỷ lệ bảo tồn dây thần kinh mặt (House–Brackmann I–II) khoảng 82–93% và tỷ lệ bảo tồn thính lực (AAO-HNS loại A–B) khoảng 42–61%, thay đổi tùy theo tình trạng nghe trước mổ và đặc điểm quần thể bệnh nhân. Các biến chứng thường được báo cáo bao gồm liệt mặt và rò dịch não tủy, trong đó rò dịch não tủy thường chiếm khoảng 3–5% trong một số loạt ca, còn y văn chung ghi nhận dao động từ 0–13,5%. Ở bệnh nhân NF2, phẫu thuật cắt u kết hợp cấy điện thính giác thân não (ABI) có thể cải thiện các chỉ số liên quan đến nghe trong một số báo cáo chọn lọc, ví dụ cải thiện ngưỡng nghe PTA và tỷ lệ sử dụng ABI sau 1 năm. Kết luận: Khi có chỉ định phù hợp, phẫu thuật u dây thần kinh tiền đình có thể đạt tỷ lệ bảo tồn dây thần kinh mặt cao và kiểm soát u tốt. Cần chuẩn hóa việc báo cáo kết quả bằng các thang điểm HB và AAO-HNS, tối ưu hóa phòng ngừa và xử trí biến chứng, đồng thời cân nhắc ABI ở bệnh nhân NF2 hoặc khi chức năng dây thần kinh ốc tai không còn được bảo tồn. PGS Nguyễn Tuyết Xương Tiến sỹ Nguyễn Quang Hùng Bác sĩ Đoàn Trung Hiếu Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà Tiến sỹ Nguyễn Như Đua Bác sĩ Nguyễn Hoàng Huy Tiến sỹ Nguyễn Tuấn Sơn Tiến sỹ Phùng Thi Hòa Tiến sỹ Đào Đình Thi Tiến sỹ Đào Đình Thi Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam 71 76 10.60137/tmhvn.v71i76.361 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐA PHƯƠNG THỨC ĐỐI VỚI QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG TẠI VIỆT NAM https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/373 Ung thư vòm mũi họng tại Việt Nam vẫn thường được phát hiện muộn do triệu chứng sớm nghèo nàn, tổn thương khó nhận diện và sự phân tán thông tin giữa nội soi, chẩn đoán hình ảnh và dấu ấn sinh học. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của trí tuệ nhân tạo đa phương thức - tích hợp dữ liệu nội soi, CT/MRI và EBV-DNA - đối với hiệu quả chẩn đoán, quy trình ra quyết định lâm sàng và khả năng triển khai tại một số cơ sở y tế ở Việt Nam. Nghiên cứu thiết kế hỗn hợp, kết hợp khảo sát thực trạng, phân tích hồi cứu - tiến cứu trên 256 bệnh nhân và đối chiếu mô hình chẩn đoán truyền thống với mô hình hỗ trợ bởi AI. Kết quả cho thấy AI đa phương thức làm tăng tỷ lệ phát hiện giai đoạn I-II từ 28,9% lên 46,5% (p<0,001), giảm tỷ lệ bỏ sót tổn thương nhỏ dưới 1 cm từ 18,7% xuống 6,2% (p<0,001), rút ngắn thời gian từ khám đầu tiên đến chẩn đoán xác định từ 28,4 xuống 16,7 ngày (p<0,001), đồng thời nâng tỷ lệ chỉ định sinh thiết đúng từ 72,3% lên 88,7%. Mô hình đa phương thức đạt độ nhạy 96,5%, độ đặc hiệu 90,2%, độ chính xác 93,8% và AUC 0,97. AI cũng làm thay đổi quyết định chẩn đoán ở 22,3% trường hợp, tăng đồng thuận chỉ định sinh thiết của bác sĩ từ 68,5% lên 87,9% và cho thấy khả năng triển khai khả quan tại các bệnh viện có hạ tầng số hóa tốt. Kết luận: trí tuệ nhân tạo đa phương thức không chỉ cải thiện hiệu quả kỹ thuật mà còn tạo ra thay đổi thực chất trong quy trình chẩn đoán UTVMH, mở ra triển vọng chuẩn hóa và phát hiện sớm tại Việt Nam. PGS Phạm Thị Bích Đào Tiến sỹ Phạm Huy Tần Khổng Văn Đông Trần Văn Tâm Lê Minh Đạt Bùi Thị Mai Nguyễn Diệu My Bác sĩ Nguyễn Minh Đức Nguyễn Thị Hằng PGS Tống Xuân Thắng PGS Phạm Trần Anh Tiến sỹ Phạm Thị Bích Thủy Bác sĩ Nguyễn Mạnh Minh Nguyễn Thi Anh Đào Nguyễn Xuân Hòa Nguyễn Thị Quỳnh Trang Phan Xuân Nam Hoàng Hữu Trường Đinh Tuấn Anh Trần Hải Yến Nguyễn Thị Ngọc Anh Nguyễn Văn Đăng Nguyễn Thị Thanh Hương Nguyễn Thanh Thủy Nguyễn Quang Tuyến Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam 71 76 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẾN KHÁM MUỘN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG TẠI TUYẾN TỈNH https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/396 Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phân tích thứ cấp trên 2.118 bệnh nhân ung thư vòm mũi họng tại ba bệnh viện tỉnh và khảo sát chẩn đoán tại 05 bệnh viện. Kết quả cho thấy 89,5% bệnh nhân đến khám muộn sau 6 tháng; 63,9% được chẩn đoán ở giai đoạn III–IV; 51,6% có ù tai một bên. Tuyến tỉnh có tỷ lệ sử dụng MRI thường quy, đọc kép và hội chẩn đa chuyên khoa thấp hơn tuyến Trung ương, lần lượt 20,0% so với 74,3%, 20,0% so với 51,4% và 20,0% so với 60,0%. Đến khám muộn liên quan đến triệu chứng ban đầu không đặc hiệu, nhận diện chưa đầy đủ dấu hiệu cảnh báo và hạn chế về phương tiện, quy trình chẩn đoán tại tuyến tỉnh. Cần cải thiện sàng lọc ban đầu ở người trưởng thành có ù tai, nghe kém, ngạt mũi một bên, chảy máu mũi tái diễn, đau đầu hoặc hạch cổ kéo dài. PGS Phạm Bích Đào Tiến sỹ Phạm Huy Tần Khổng Văn Đông Trần Văn Tâm Lê Minh Đạt Bùi Thị Mai Nguyễn Diệu Vy Nguyễn Thị Hằng PGS Tống Xuân Thắng PGS Phạm Trần Anh Tiến sỹ Phạm Thị Bích Thủy Bác sĩ Nguyễn Mạnh Minh Nguyễn Thi Anh Đào Nguyễn Xuân Hòa Nguyễn Thị Quỳnh Trang Phan Xuân Nam Hoàng Hữu Trường Đinh Tuấn Anh Trần Hải Yến Nguyễn Thị Ngọc Anh Nguyễn Văn Đăng Nguyễn Thị Thanh Hương Nguyễn Thi Thanh Thủy Bùi Quang Tuyến Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam 71 76 TỔNG QUAN MỐI LIÊN QUAN GIỮA UNG THƯ THỰC QUẢN VÀ THÓI QUEN ĂN UỐNG NÓNG https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/337 Mục tiêu: Tổng quan luận điểm này nhằm đánh giá có hệ thống mối liên quan giữa thói quen tiêu thụ đồ uống và thực phẩm nóng với nguy cơ mắc Ung thư thực quản. Phương pháp: Chúng tôi tiến hành Tổng quan luận điểm bằng cách tổng hợp và phân tích dữ liệu từ các nghiên cứu. Kết quả: Phân tích gộp cho thấy việc uống trà nóng có mối liên hệ đáng kể với việc tăng nguy cơ Ung thư thực quản. Mối liên hệ này đặc biệt mạnh mẽ đối với Ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản. Kết luận: Thói quen tiêu thụ đồ uống và thực phẩm nóng làm tăng đáng kể nguy cơ mắc Ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản, đặc biệt ở các quần thể Châu Á và Nam Mỹ. Thay đổi các thói quen ăn uống (bao gồm giảm nhiệt độ tiêu thụ, ăn chậm và tránh ăn quá no) là biện pháp phòng ngừa tiềm năng quan trọng đối với Ung thư thực quản. Từ khóa: Ung thư thực quản, thói quen ăn uống nóng, tổng quan luận điểm. Nguyễn Bích Hường Nguyễn Thị Thanh Trà Phạm Thị Hằng Phùng Thị Hòa Bác sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh Phạm Văn Hiệp Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam 71 76 TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM VỀ RỬA MŨI BẰNG CORTICOID SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI MŨI XOANG Ở BỆNH NHÂN VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/385 Đặt vấn đề: Viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT) là bệnh lý phổ biến (5-12% dân số), ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Khi điều trị nội khoa thất bại, phẫu thuật nội soi mũi xoang (PTNSMX) được chỉ định, nhưng kết quả phụ thuộc nhiều vào chăm sóc hậu phẫu. Sử dụng corticosteroid tại chỗ dạng rửa mũi thể tích lớn sau mổ cho thấy tiềm năng kiểm soát viêm và ngăn ngừa tái phát. Tuy nhiên, phương pháp này chưa được FDA phê duyệt chính thức, bằng chứng về tính an toàn và hiệu quả còn chưa đầy đủ, đặc biệt tại Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tổng quan hiệu quả và tính an toàn của phương pháp rửa mũi bằng corticosteroid sau PTNSMX ở bệnh nhân VMXMT. Mục tiêu: mô tả hiệu quả và tính an toàn của phương pháp trên. Phương pháp nghiên cứu: Tổng quan luận điểm theo hướng dẫn PRISMA. Tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu PubMed, Cochrane, Rhinology Journal và thư viện Đại học Y Hà Nội từ năm 2010 đến 2025. Tiêu chí lựa chọn: nghiên cứu về rửa mũi corticosteroid thể tích lớn sau PTNSMX điều trị VMXMT. Loại trừ các tổng quan, phân tích gộp, luận văn, báo cáo ca bệnh. Hai mươi nghiên cứu (894 bệnh nhân) được đưa vào phân tích. Kết quả: Đa số các nghiên cứu cho thấy rửa mũi corticosteroid cải thiện điểm SNOT-22 và LKES tốt hơn có ý nghệ thống kê so với rửa nước muối đơn thuần (6/7 nghiên cứu) và so với xịt mũi corticosteroid (3/4 nghiên cứu). Về an toàn, sử dụng ngắn hạn (≤3 tháng) không gây ức chế trục HPA. Sử dụng dài hạn (>12 tháng) ghi nhận ức chế HPA không triệu chứng ở 23% bệnh nhân (nghiên cứu Soudry 2016), đặc biệt khi phối hợp với corticosteroid dạng hít hen (OR=30,4). Không có thay đổi nhãn áp có nghĩa lâm sàng. Liều budesonide lưu lại sau rửa là 37,9% liều ban đầu. Kết luận: Rửa mũi corticosteroid sau phẫu thuật nội soi mũi xoang cải thiện chất lượng cuộc sống và điểm số nội soi, đặc biệt ở bệnh nhân có polyp mũi hoặc viêm mũi xoang tăng bạch cầu ái toan, đồng thời không làm tăng nhãn áp trên lâm sàng. Cần thận trọng và theo dõi ức chế trục HPA ở bệnh nhân sử dụng đồng thời nhiều đường corticosteroid khác (như hít hen). Cần cá thể hóa điều trị dựa trên thể bệnh, bệnh đồng mắc và tổng liều corticosteroid. Nguyễn Đức Hưng Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam 71 76 ĐẶC ĐIỂM ÂM ỐC TAI Ở TRẺ SƠ SINH TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/403 Mục tiêu: khảo sát kết quả đo âm ốc tai và một số yêu tố liên quan đến âm ốc tai ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2024 – 2025. Đối tượng và phương pháp: mô tả cắt ngang tiến cứu với tất cả trẻ sơ sinh được sinh ra và đo âm ốc tai tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ 11/2024 đến 11/2025. Kết quả: trên 443 trẻ sơ sinh ghi nhận tỷ lệ nữ chiếm 52,82%; Đa số trẻ sơ sinh có cân nặng từ 2,5–3,5 kg (82,39%); Tỷ lệ trẻ đạt kết quả đo âm ốc tai lần 1 là 88,49%; có 100% trẻ đạt kết quả khi đo lần 2; Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi thai, cân nặng lúc sinh với kết quả đo âm ốc tai lần 1. Kết luận: Đo âm ốc tai có giá trị trong sàng lọc thính lực sơ sinh. Nghiên cứu cũng bổ sung dữ liệu về sàng lọc thính lực bằng phương pháp đo âm ốc tai tại Đồng bằng sông Cửu Long. PGS Nguyễn Triều Việt Trang Hồng Hạnh Đỗ Hội Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam 71 76 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ù TAI Ở BỆNH NHÂN ĐIẾC ĐỘT NGỘT TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG. https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/360 Ù tai là triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân điếc đột ngột và có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mức độ ù tai ở bệnh nhân điếc đột ngột điều trị tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 75 bệnh nhân điếc đột ngột vô căn điều trị nội trú từ tháng 02/2025 đến tháng 07/2025, trong đó 58 bệnh nhân có triệu chứng ù tai được đánh giá bằng thang điểm Tinnitus Handicap Inventory (THI). Kết quả nghiên cứu: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 46.43 ± 15.18; nữ chiếm 55.2%. Điểm THI trung bình là 77.22 ± 21.15. Mức độ ù tai trầm trọng chiếm tỷ lệ cao nhất (60.3%), tiếp theo là mức độ nặng (27.6%). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của điểm THI theo tuổi, giới, triệu chứng chóng mặt, bệnh nội khoa kèm theo hoặc mức độ nghe kém (p > 0.05). Tuy nhiên điểm THI có sự khác biệt giữa các nhóm hình dạng thính lực đồ (p = 0.026). Kết luận: điểm THI có giá trị trong việc đánh giá triệu chứng ù tai của bệnh nhân điếc đột ngột Từ khóa: ù tai, điếc đột ngột, Tinnitus Handicap Inventory, thính lực đồ. Điều dưỡng viên Ngô Thị Như Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hoàng Huy Thạc sĩ, Bác sĩ chuyên khoa cấp 2 Lê Thị Thu Hà Lê Tuấn Nhật Hoàng Tiến sĩ, Bác sĩ Bùi Thế Anh Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam 71 76