Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh
<p><strong>Tên cơ quan chủ quản:</strong> Hội Tai mũi họng Việt Nam</p> <p> - Địa chỉ: Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương, 78 Đường Giải Phóng, Quận Đống Đa, Hà Nội;</p> <p> - Điện thoại: 04.63292572</p> <p> - Fax: 04.38686522</p> <p><strong>Tôn chỉ, mục đích:</strong></p> <p> - Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ phòng, chống các bệnh về tai mũi họng;</p> <p> - Phổ biến kiến thức mới và giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước thuộc chuyên ngành tai mũi họng;</p> <p> - Thông tin về các hoạt động của Hội tới các hội viên.</p> <p><strong>Đối tượng phục vụ: </strong>Hội viên Hội Tai mũi họng Việt Nam và các bạn đọc quan tâm.</p> <p><strong>Phạm vi phát hành chủ yếu:</strong> Trong toàn quốc</p> <p>Thể thức xuất bản:</p> <p> - Tên gọi: Tạp chí Tai mũi họng.</p> <p> - Ngôn ngữ thể hiện: Tiếng Việt (một số bài dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp);</p> <p> - Kỳ hạn xuất bản: 02 tháng/01 kỳ;</p> <p> - Khuôn khô: 19cm x 27cm;</p> <p> - Số trang: 80 trang;</p> <p> - Số lượng: 1.000 bản/kỳ;</p> <p> - Nơi in: Tại Hà Nội.</p> <p><strong>Phương thức phát hành:</strong> Qua Bưu điện và tự phát hành.</p> <p><strong>Lãnh đạo cơ quan báo chí:</strong> Tổng biên tập: Võ Thanh Quang.</p>Vietnam Journal of Otorhinolaryngology - Head and Neck Surgeryvi-VNTạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam1859-3704KHẢO SÁT MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA TRẦN XOANG HÀM, XOANG SÀNG SAU VÀ XOANG BƯỚM TRÊN PHIM CT SCAN MŨI XOANG
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/193
Tổng quan: Vùng xoang sàng sau và xoang bướm có cấu tạo phức tạp, tiếp giáp với nhiều cấu trúc quan trọng. Việc phẫu thuật nội soi mũi xoang vùng này cần có điểm mốc hướng dẫn an toàn để tránh những biến chứng nghiêm trọng, trong đó trần xoang hàm là một điểm mốc hiệu quả, thuận tiện xác định được trên nội soi và CT scan. Tại Việt Nam, vẫn chưa có nhiều tác giả đánh giá vai trò của trần xoang hàm trong việc định hướng tiếp cận vùng xoang sàng sau và xoang bướm. Mục tiêu: Khảo sát mối tương quan giữa trần xoang hàm với xoang sàng sau và xoang bướm trên phim CT scan mũi xoang đa lát cắt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang với 125 bệnh nhân đến khám và chụp MSCT mũi xoang tại bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM, trong thời gian từ tháng 1/2020 đến tháng 10/2020. Kết quả: Chiều cao trung bình của trần xoang hàm so với sàn mũi là 34.43 ± 3.46mm. Có mối tương quan tuyến tính thuận giữa trần xoang hàm với trần sàng sau (Pearson’s r=0.620, p<0.001). Tỷ lệ khoảng cách từ trần xoang hàm tới trần xoang sàng sau so với chiều cao của trần xoang hàm đa số nằm trong khoảng 1/3-1/2 chiều cao của trần xoang hàm (chiếm 76.8%). Có 82.46% lỗ thông xoang bướm nằm thấp hơn so với trần xoang hàm, có mối tương quan tuyến tính thuận giữa trần xoang hàm với lỗ thông xoang bướm (Pearson’s r=0.307, p<0.001). Kết luận: Có mối tương quan chặt chẽ giữa trần xoang hàm, xoang sàng sau và xoang bướm trên phim CT scan mũi xoang. Trần xoang hàm là một điểm mốc giải phẫu quan trọng, giúp định hướng an toàn trong phẫu thuật nội soi, đặc biệt trong các ca phẫu thuật xoang bướm và mổ lại. Với tính chất ổn định và dễ quan sát, trần xoang hàm có thể giúp giảm thiểu nguy cơ biến chứng trong phẫu thuật mũi xoang, góp phần cải thiện kết quả phẫu thuật.Bác sĩ Nguyễn Minh TrungPGS Trần Phan Chung Thủy
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
70701910.60137/tmhvn.v70i70.193TỔNG QUAN HỘI CHỨNG MIẾNG CẮN ĐẦU TIÊN
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/201
Đặt vấn đề: Mặc dù hội chứng miếng cắn đầu tiên đã được biết đến rộng rãi trong các bối cảnh phẫu thuật, nhưng nó bị bỏ quên trong y văn tiếng Việt. Bài báo này sẽ nêu bật các đặc điểm lâm sàng và giải phẫu liên quan, sinh bệnh học, chẩn đoán của hội chứng miếng cắn đầu tiên, và phân tích các lựa chọn điều trị khác nhau hiện có cho các bác sĩ tai mũi họng Việt Nam để kiểm soát hội chứng này. Phương pháp: Tìm kiếm các bài báo liên quan chủ đề nghiên cứu bằng công cụ PubMed với thuật ngữ được sử dụng là: "first bite syndrome". Danh sách tài liệu tham khảo của các bài báo liên quan sẽ được xem xét để xác định thêm các bài báo bổ sung. Kết quả: Hội chứng miếng cắn đầu tiên đặc trưng bởi cơn đau dữ dội ở vùng tuyến nước bọt mang tai xảy ra ở miếng cắn đầu tiên trong mỗi bữa ăn và cải thiện ở các miếng cắn tiếp theo. Sinh lý bệnh được cho là do sự mất cân bằng chi phối thần kinh giao cảm và phó giao cảm của tuyến nước bọt mang tai. Điều này thường thấy nhất trong bối cảnh hậu phẫu sau phẫu thuật ở vùng tuyến nước bọt hoặc khoang cạnh hầu, nhưng nguyên nhân từ các khối u ác tính cũng đã được báo cáo. Bệnh nhân thường có bệnh lý thần kinh tái lớn và/hoặc hội chứng Horner kèm theo. Bằng chứng về phương pháp điều trị hiện nay chủ yếu chỉ giới hạn ở các báo cáo/loạt ca bệnh, tuy nhiên, tiêm độc tố botulinum vào tuyến mang tai đã cho thấy có hiệu quả và an toàn. Kết luận: Hội chứng miếng cắn đầu tiên do tổn thương các sợi thần kinh giao cảm cổ sau hạch, gây mất cân bằng kiểm soát thần kinh tự chủ của tuyến nước bọt mang tai. Bác sĩ tai mũi họng cần nhận thức hội chứng này để tư vấn trước mổ, phát hiện sau phẫu thuật đầu cổ và xem xét nó như dấu hiệu tiềm tàng của khối u ác tính. Nếu nó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống người bệnh thì tiêm botulinum toxin vào tuyến mang tai là phương pháp điều trị hàng đầu hiện nay.Trần Văn BửuNguyễn Thị LuyếnNguyễn Viết Thái
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070101810.60137/tmhvn.v70i70.201BÁO CÁO CA LÂM SÀNG ÁP-XE NGOÀI MÀNG CỨNG, VIÊM XƯƠNG TRÁN VÀ POTT’S PUFFY TUMOR DO BIẾN CHỨNG VIÊM XOANG
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/203
Đặt vấn đề: Pott’s puffy tumor là tình trạng nhiễm trùng xoang trán, kèm theo hình thành áp xe dưới màng xương và nội sọ. Đây là một bệnh lý hiếm gặp, thường xảy ra ở thanh thiếu niên, do viêm xoang không được điều trị, chấn thương đầu, lạm dụng chất kích thích hay nhiễm trùng răng miệng. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán và điều trị một trường hợp viêm đa xoang biến chứng áp xe ngoài màng cứng vùng trán. Giới thiệu ca bệnh: bệnh nhân nam 16 tuổi nhập viện với tình trạng sốt, đau đầu, và sưng to vùng trán, với kết quả hình ảnh học viêm xoang trán, xoang hàm và xoang sàng trái, kèm theo áp-xe ngoài màng cứng tại vùng trán. Bệnh nhân được sử dụng kháng sinh, sau đó phẫu thuật nội soi mở xoang trán dẫn lưu, kháng sinh sau mổ. Kết quả: bệnh nhân tái khám sau mổ có vết mổ lành tốt, không có dấu hiệu tái phát áp xe hay viêm xoang. Kết luận: Pott’s puffy tumor cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời để tránh các biến chứng nguy hiểm cho bệnh nhân. Hình ảnh học (chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ) góp phần chẩn đoán và đánh giá biến chứng của bệnh.PGS Lâm Huyền TrânBác sĩ Nguyễn Thị Ngọc LiênBác sĩ Trần Khôi Nguyên
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070192410.60137/tmhvn.v70i70.203KHẢO SÁT SỰ HÀI LÒNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ ĐIẾC ĐỘT NGỘT TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ NĂM 2024
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/204
Mục Tiêu:(1) mô tả sự hài lòng của người bệnh điều trị điếc đột ngột. (2) đánh giá các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh. Đối Tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 138 người bệnh từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2024. Kết quả:sự hài lòng khả năng tiếp cận trên 83%. Hài lòng sự minh bạch thông tin thủ tục khám bệnh và điều trị trên 89%. Đặt biệt rất hài lòng về giải thích chi phí khi ra viện chiếm 93,5%. Hài lòng thái độ ứng xử năng lực chuyên môn bác sỹ chiếm 93%. Đặt biệt rất hài lòng về giải thích tình trạng bệnh, phác đồ điều trị chiếm 95%. Hài lòng về công tác điều dưỡng chiếm 87%. Hài lòng về cung cấp dịch vụ chiếm 86%. Hài lòng kết quả điều trị chiếm 81.2%. Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng người bệnh tuổi càng cao sự hài lòng càng cao.Cử nhân Điều Dưỡng Phương Lâm Minh Nguyệt
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070253110.60137/tmhvn.v70i70.204ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT AMIĐAN BẰNG SÓNG CAO TẦN (COBLATOR) TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ NĂM 2022-2025
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/215
Mục tiêu nghiên cứu: (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng; (2) Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt amiđan bằng sóng cao tần (coblator). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả lâm sàng cắt ngang có can thiệp trên 63 đối tượng nghiên cứu được chẩn đoán viêm amiđan mạn tính và được chỉ định phẫu thuật cắt amiđan bằng sóng cao tần (coblator) tại bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ từ năm 2022-2025. Kết quả: Đa phần là nữ giới (57,1%); trong đó, độ tuổi từ 31-40 chiếm (39,7%). Lý do vào viện là nuốt vướng (49,2%). Phân độ quá phát amiđan độ III (69,8%). Lượng máu mất trong phẫu thuật <5ml chiếm (98,4%). Chảy máu sớm sau phẫu thuật 6,3% và chảy máu muộn sau phẫu thuật là 4,8%; có 96,8% đau ít ở hậu phẫu ngày 1 và gần như hoàn toàn không đau vào hậu phẫu ngày 14 (98,4%). Kết quả chung sau phẫu thuật mức độ tốt đạt 96,8%. Kết luận: Phẫu thuật cắt amiđan bằng sóng cao tần (coblator) giúp giảm lượng máu trong phẫu thuật, mức độ đau và đều đạt kết quả tốt sau phẫu thuật.Bác sĩ Hồ Anh KhangTiến sĩ Châu Chiêu HòaBác sĩ Trang Hồng HạnhTrần Quốc Tường
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070324210.60137/tmhvn.v70i70.215ỨNG DỤNG MÔ HÌNH WILSON VÀ CLEARY TRONG NGHIÊN CỨU HRQOL: TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/235
Mục tiêu: Tổng quan việc ứng dụng mô hình Wilson và Cleary trong đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe. Phương pháp: Tổng quan luận điểm. Kết quả: Trong 71 bài viết có liên quan, 8 bài phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn được đưa vào nghiên cứu, trong đó có 1 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, 6 nghiên cứu cắt ngang và 1 nghiên cứu tổng quan hệ thống. Các nghiên cứu đều cho thấy việc đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe thông qua mô hình Wilson và Cleary là phù hợp. Kết luận: Các nghiên cứu đều có giá trị trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe thông qua mô hình Wilson và Cleary.Phạm Văn HiệpNguyễn Trường NamTrần Thị AnĐinh Thị Kim AnhNguyễn Bích Hường
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070435010.60137/tmhvn.v70i70.235TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM: CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH CÓ HỘI CHỨNG NGƯNG THỞ KHI NGỦ
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/223
Mục tiêu: Tổng quan về chất lượng cuộc sống của người bệnh có chứng ngưng thở khi ngủ. Phương pháp: Tổng quan luận điểm. Kết quả: Trong 402 bài viết có liên quan, 6 bài phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn được đưa vào nghiên cứu, trong đó có 3 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng. Các nghiên cứu này được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau, đều cho thấy việc đánh giá chất lượng cuộc sống ở người bệnh có chứng ngưng thở khi ngủ là phù hợp. Kết luận: Tổng quan các nghiên cứu đều cho thấy việc đánh giá chất lượng cuộc sống ở người bệnh có chứng ngưng thở khi ngủ là phù hợp. Các kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều trị và quản lý hiệu quả chứng ngưng thở khi ngủ để cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.Cử nhân điều dưỡng Nguyễn Thị Thanh TràPhạm Văn HiệpCao đẳng Điều dưỡng Hoàng Ngọc PhươngCử nhân điều dưỡng Lê Tự Minh HoàngNguyễn Bích HườngCao đẳng Điều dưỡng Nguyễn Du KhánhCao đẳng Điều dưỡng Phạm Thị HằngCao đẳng Điều dưỡng Phan Thị Hoài
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070515710.60137/tmhvn.v70i70.223ỨNG DỤNG BẢNG ĐIỂM TRIỆU CHỨNG TRÀO NGƯỢC (RSS) VÀ BẢNG ĐÁNH GIÁ DẤU HIỆU TRÀO NGƯỢC (RSA) TRONG CHẨN ĐOÁN TRÀO NGƯỢC HỌNG THANH QUẢN
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/234
Đặt vấn đề: Theo hội nghị thường niên tại Dubai năm 2023 của các chuyên gia Hiệp hội Tai mũi họng Thế giới (IFOS, International Federation of ORL Societies) đã đồng thuận đưa Bảng điểm triệu chứng trào ngược (RSS, The Reflux Symptom Score) và Bảng điểm đánh giá dấu hiệu trào ngược qua nội soi (RSA, Reflux Sign Assessment) trong chẩn đoán trào ngược họng thanh quản (LPR). Hiện ở Việt Nam mới chỉ có 02 công trình nghiên cứu ứng dụng các bảng này trong thực hành chẩn đoán LPR. Mục tiêu: Khảo sát ứng dụng bảng RSS và RSA trong thực hành lâm sàng chẩn đoán trào ngược họng thanh quản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca tiến cứu 209 người bệnh tự đánh giá triệu chứng lâm sàng trong bảng RSS và được nội soi ống cứng để ghi điểm tại bảng RSA trong chẩn đoán trào ngược họng thanh quản tại Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn từ 01/10/2024 đến 30/4/2025. Kết quả: Trong 209 người bệnh tham gia nghiên cứu có: tỷ lệ nam:nữ là 1:1.09 (52.5% là nam giới); khoảng khảo sát độ tuổi từ 16 đến 91 tuổi, tuổi trung bình là 51.51±15.70, nhóm tuổi gặp nhiều nhất từ 31 đến 60 tuổi; chỉ số BMI trung bình 25.17±3.38 kg/m2, nhóm béo phì độ I chiếm tỷ lệ 39.71%, thừa cân chiếm 25.84%; có 27.27% có bệnh lý nền, trong đó bệnh viêm mũi dị ứng chiếm 7.66%, COPD chiếm 7.18%, GERD chiếm 6.70%. Người bệnh đến khám vì khàn tiếng chiếm 31.58%, đau họng chiếm 27.27% và thấp nhất là khó nuốt chiếm 4.31%. Điểm RSS dao động từ 30-131, điểm trung bình là 87,95+26,23. Các triệu chứng thường gặp nhất: ở tai mũi họng là cảm giác vướng họng (100%), tằng hắng và cảm giác có đàm trong họng hoặc chảy mũi sau (91.39%), khàn tiếng hoặc có vấn đề về giọng nói (88.04%); ở tiêu hóa/bụng là trào ngược dịch, thức ăn cứng (74.16%), hôi miệng (63.16%), nóng sau xương ức, cảm giác axit dạ dày trào lên (59.33%); ở hô hấp/ngực là ho sau ăn/khi nằm (71.29%), ho ban ngày (46.89%). Điểm RSA dao động từ 14-52, điểm trung bình là 34.24±9.65. Các dấu hiệu nội soi thường gặp nhất: ở khoang miệng là đỏ trụ trước amidan (72.73%), lưỡi gà đỏ và/hoặc phù nề (64.59%); ở khoang họng là dịch nhầy trên thành họng (77.99%), thành sau họng miệng hoặc hạ họng đỏ (61.72%); ở thanh quản là dịch nhầy giữa hai dây thanh (83.73%), đỏ mép sau và vùng sau sụn nhẫn (86.12%). Tương quan giữa bảng điểm RSS và RSA là tương quan thuận mức độ mạnh (chỉ số r2 là 0.5579). Kết luận: Bảng RSS và bảng RSA hiệu quả trong thực hành lâm sàng chẩn đoán trào ngược họng thanh quản (LPR), tránh bỏ sót bệnh và giúp cho bác sĩ lâm sàng có kế hoạch, chiến lực điều trị và trong tương lai có thể ứng dụng trong đánh giá đáp ứng điều trị cho người bệnh LPR. Nghiên cứu này được Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng cấp kinh phí thực hiện dưới mã số đề tài GVTC18.27ThS. BS Lê Nguyễn Trọng TínTS.BS Nguyễn Công Trung
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070587110.60137/tmhvn.v70i70.234PHẪU THUẬT VÁ NHĨ NỘI SOI BẰNG KỸ THUẬT UNDERLAY KHÔNG VẠT CUỐNG TẠI BVĐK TỈNH KHÁNH HÒA
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/230
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của vá nhĩ đơn thuần bằng phương pháp underlay không vạt cuống qua nội soi với mục đích chuyển giao kỹ thuật này về tuyến y tế cơ sở. Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu, có can thiệp lâm sàng. Đối tượng nghiên cứu: Gồm 42 bệnh nhân phẫu thuật nội soi vá nhĩ underlay không vạt cuống tại Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa từ 01/01/2017 - 30/06/2018. Kết quả: Màng nhĩ liền kín chiếm 97,5%, đường khí sau mổ trung bình 23 ± 5 dB, Rinne sau mổ tăng từ 10 - 20 dB. Kết luận: Vá nhĩ đơn thuần bằng phương pháp underlay không vạt cuống qua nội soi cho kết quả thành công cao, với dụng cụ đơn giản, dễ thực hiện, có thể áp dụng rộng rãi tại tuyến y tế cơ sở.Trần Văn Khen
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070727810.60137/tmhvn.v70i70.230ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẤY ỐC TAI ĐIỆN TỬ CHO BỆNH NHI DỊ DẠNG ỐC TAI TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/218
Mục tiêu: Chúng tôi mô tả một trường hợp cấy ốc tai điện tử 2 bên cho bệnh nhi dị dạng ốc tai tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 và bước đầu đánh giá kết quả điều trị sau phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả một trường hợp bệnh. Kết quả: Bệnh nhi nữ, 2 tuổi, đã được chẩn đoán mắc dị dạng ốc tai hai bên thuộc Mondini týp I. Trước phẫu thuật, tình trạng của bé rất nghiêm trọng với ngưỡng nghe trung bình lên tới 95 dB, dẫn đến việc mất khả năng nghe và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ. Sau một quá trình đánh giá toàn diện, bé được chỉ định thực hiện phẫu thuật cấy ốc tai điện tử. Điện cực được thiết kế ngắn hơn với phạm vi kích thích hoạt động là 14.3 mm, đường kính tại đầu gốc là 0.8 mm, đường kính tại đầu đỉnh là 0.5 mm nhằm phù hợp và tối ưu cho cấu trúc ốc tai của bé. Hậu phẫu, vết thương lành tốt và không ghi nhận biến chứng nào. Đặc biệt, sau 7 tháng hiệu chỉnh tai phải, ngưỡng nghe PTA đạt 46.3 dB, và sau 5 tháng hiệu chỉnh tai trái, ngưỡng nghe PTA còn 56.3 dB, cho thấy sự cải thiện rõ rệt. Kết quả phát triển ngôn ngữ sau phẫu thuật cũng rất khả quan, bé đã có thể nghe rõ các âm thanh cơ bản và nhận biết vật thể, thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ, tương tự như những trẻ em khác đã cấy ốc tai điện tử. Kết luận: Trường hợp cấy ốc tai điện tử cho bệnh nhi 2 tuổi dị dạng ốc tai hai bên cho thấy hiệu quả tích cực trong việc cải thiện khả năng nghe và phát triển ngôn ngữ. Việc can thiệp sớm đã giúp bệnh nhi hồi phục tốt sau phẫu thuật và đạt được những bước tiến khả quan trong giao tiếp. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chẩn đoán và điều trị kịp thời đối với các trẻ em bị khiếm thính bẩm sinh, từ đó mở ra cơ hội phát triển toàn diện cho các em trong tương lai.Bác sĩ Nguyễn Tuấn NhưLương Hữu ĐăngPhạm Nguyên TháiTrần Tường VinhPhạm Đoàn Tuấn Tài
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070798910.60137/tmhvn.v70i70.218TỔNG QUAN LUẬN ĐIỂM: HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH CHĂM SÓC THEO NHÓM LẤY BỆNH NHÂN LÀM TRUNG TÂM
https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/225
Mục tiêu: Tổng quan về hiệu quả của mô hình chăm sóc theo nhóm lấy bệnh nhân làm trung tâm. Phương pháp:Tổng quan luận điểm. Kết quả: Trong 335 bài viết có liên quan, 11 bài phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn được đưa vào nghiên cứu. Các nghiên cứu này được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau, đều cho thấy hiệu quả của mô hình chăm sóc theo nhóm lấy bệnh nhân làm trung tâm. Kết luận: Mô hình chăm sóc theo nhóm lấy bệnh nhân làm trung tâm cho thấy tiềm năng lớn trong việc cải thiện việc quản lý và kết quả điều trị cho nhiều bệnh lý, đặc biệt là các bệnh mãn tínhĐinh Thị Kim AnhPhạm Văn HiệpNguyễn Bích Hường
Copyright (c) 2025 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam
7070909610.60137/tmhvn.v70i70.225