https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/issue/feedTạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam2026-02-23T00:00:00+00:00Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nambientapdientutmh@gmail.comOpen Journal Systems<p><strong>Tên cơ quan chủ quản:</strong> Hội Tai mũi họng Việt Nam</p> <p> - Địa chỉ: Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương, 78 Đường Giải Phóng, Quận Đống Đa, Hà Nội;</p> <p> - Điện thoại: 04.63292572</p> <p> - Fax: 04.38686522</p> <p><strong>Tôn chỉ, mục đích:</strong></p> <p> - Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ phòng, chống các bệnh về tai mũi họng;</p> <p> - Phổ biến kiến thức mới và giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước thuộc chuyên ngành tai mũi họng;</p> <p> - Thông tin về các hoạt động của Hội tới các hội viên.</p> <p><strong>Đối tượng phục vụ: </strong>Hội viên Hội Tai mũi họng Việt Nam và các bạn đọc quan tâm.</p> <p><strong>Phạm vi phát hành chủ yếu:</strong> Trong toàn quốc</p> <p>Thể thức xuất bản:</p> <p> - Tên gọi: Tạp chí Tai mũi họng.</p> <p> - Ngôn ngữ thể hiện: Tiếng Việt (một số bài dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp);</p> <p> - Kỳ hạn xuất bản: 02 tháng/01 kỳ;</p> <p> - Khuôn khô: 19cm x 27cm;</p> <p> - Số trang: 80 trang;</p> <p> - Số lượng: 1.000 bản/kỳ;</p> <p> - Nơi in: Tại Hà Nội.</p> <p><strong>Phương thức phát hành:</strong> Qua Bưu điện và tự phát hành.</p> <p><strong>Lãnh đạo cơ quan báo chí:</strong> Tổng biên tập: Võ Thanh Quang.</p>https://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/217NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ PHẪU THUẬT CẤY ỐC TAI ĐIỆN TỬ TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG SÀI GÒN2025-05-12T02:58:09+00:00Bác sĩ Trương Kim Tribsnoitrudalat@gmail.comBác sĩ Hoàng LươngBs.luong@taimuihongsg.comBác sĩ Đỗ Kỳ Nhậtdokynhat@yahoo.comBác sĩ Đinh Tiến TrungTientrungdinh3110@gmail.comBác sĩ Nguyễn Đức Ngọcbsnguyenducngoc@gmail.comBác sĩ Trương Thế AnhTruongtheanh2019@gmail.comMục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và phẫu thuật cấy ốc tai điện tử tại bệnh viện Tai Mũi Họng Sài gòn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 30 bệnh (36 tai) ≥ 12 tháng tuổi, đủ tiêu chuẩn cấy điện cực ốc tai vào phẫu thuật tại bệnh viện Tai Mũi Họng Sài gòn, từ 2015-2024. Với phương pháp tiến cứu, can thiệp lâm sàng. Kết quả: Giới tính nam (66,67%). Tuổi cấy: Trên 7 tuổi (63,33%), tuổi cấy lớn, vì cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nguyên nhân nghe kém: bẩm sinh (70%), ngộ độc thuốc (33,3%) của điếc mắc phải. Đeo máy trợ thính trước cấy: 88,9%, tạo thuận lợi cho âm ngữ trị liệu. Vaccine trước mổ phòng viêm màng não (100%). Tai cấy: bên (P) 44,44% và 16,67% cấy 2 bên. Cách đặt điện cực: Mở ốc tai (80,56%), tùy kỹ thuật riêng mỗi phẫu thuật viên. Điện cực vào ốc tai: 94,44 % vào trọn vẹn, 2 trường hợp (5,56 %) không vào hết (1 nghi xơ hóa sau chấn thương, 1 không rõ nguyên nhân). Thời gian mổ: 1 tai, <120 phút 58,3% (33,3% mổ <90 phút); 2 tai, 180-240 phút (66,7%). Biến chứng trong và sau mổ: 1 chậm lành vết mổ nhưng sau đó lành tốt, 1 rối loạn vị giác phục hồi sau 6 tháng, cùng chiếm 2,8%. Thời gian lưu lại bệnh viện: 96,7% xuất viện ngày thứ 4 sau mổ. Xuất viện sớm tiết kiệm chi phí. Kết luận: Tuổi cấy lớn nhưng việc đeo máy trợ thính trước cấy tốt sẽ tạo thuận lợi cho âm ngữ trị liệu. Điếc bẩm sinh chiếm đa số, cần có chương trình tầm soát phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Cấy điện cực ốc tai an toàn, có thể xuất viện sớm giảm nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tiết kiệm.2026-01-05T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/233LỰA CHỌN KHÁNG SINH CHO VIÊM MŨI XOANG CẤP MỦ: PHÂN TÍCH 1584 KHÁNG SINH ĐỒ TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG2025-11-06T14:42:50+00:00Thạc sĩ. Bác sĩ Nội trú Nguyễn Văn LuậnDrluan.ent@gmail.comTiến sĩ Nguyễn Thế AnhTiến sĩ Nguyễn Hoàng HuyThạc sĩ Nguyễn Toàn ThắngThạc sĩ Nguyễn Thị Thu ThúyThạc sĩ Nguyễn Thị Tuyếncherryblossomhmu@gmail.comNgô Duy ThịnhViêm mũi xoang cấp mủ là bệnh phổ biến tại Việt Nam, với tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh ngày càng gia tăng. Nghiên cứu hồi cứu trên 1584 ca viêm mũi xoang cấp mủ được cấy mủ mũi lên vi khuẩn và làm kháng sinh đồ tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương (05/2022 – 12/2023) cho thấy sự thay đổi về thành phần vi khuẩn so với y văn và các quốc gia khác. Ba vi khuẩn thường gặp nhất là H.influenza, S.epidermidis và S.peumonia, trong đó S.epidermidis có tỷ lệ kháng kháng sinh cao, gây khó khăn cho điều trị. Lựa chọn kháng sinh phù hợp phụ thuộc vào nhóm tuổi: Với nhóm < 12 tuổi: amoxicillin/axit clavulanic, ceftriaxone, cefotaxime được ưu tiên; azithromycin và clarithromycin có thể cân nhắc lựa chọn mặc dù hiệu quả thấp hơn. Với nhóm ≥ 12 tuổi: Amoxicillin/axit clavulanic, ceftriaxone, cefotaxime vẫn được ưu tiên; macrolid ít hiệu quả; nếu bệnh nhân ≥ 18 tuổi thì quinolon (ciprofloxacin, levofloxacin) có thể lựa chọn nếu thất bại với beta – lactam2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/221NHÂN 2 TRƯỜNG HỢP CHỈNH HÌNH CHUỖI XƯƠNG CON TỰ THÂN 1 THÌ Ở BỆNH NHÂN CHOLESTEATOMA BẨM SINH VÀ MẮC PHẢI TẠI BV TMH SÀI GÒN2025-05-14T14:14:32+00:00Trương Kim Tribsnoitrudalat@gmail.comĐỗ Kỳ Nhậtdokynhat@yahoo.comĐinh Tiến TrungTientrungdinh3110@gmail.comMục tiêu: Rút kinh nghiệm trong chẩn đoán, tư vấn trước mổ và điều trị. Đưa ra sự kết hợp phương tiện tạo thuận lợi trong giải quyết bệnh tích. Tận dụng vật liệu tự thân nhằm phục hồi sức nghe tự nhiên và giảm chi phí điều trị. Kết quả: Case 1: Giảm thính trung bình – nặng (III) trong khi màng nhĩ nguyên vẹn, tuy nhiên nghi ngờ bệnh tích trong tai giữa do màng nhĩ phồng, dày, đục. Gián đoạn chuỗi xương con/Ct scan. Tái khám sau 3 tuần: PTA 33,5 dB (cải thiện 24 dB), ABG: 23,75 dB (thu hẹp 15 dB). Ct scan sạch bệnh tích, trụ dẫn đúng vị trí. Không có biến chứng. Case 2: Giảm thính nhẹ (I) trong khi không thấy xương đe/Ct scan (không phù hợp giữa thính lực đồ và Ct scan) và nhiều bất thường/nội soi. Tái khám Sau mổ hơn 3 năm: Màng nhĩ và thượng nhĩ kín, PTA 20 dB (cải thiện 13,75 dB), ABG: 12,25 dB (thu hẹp 4 dB). CT scan: Chưa tái phát cholesteatoma, trụ dẫn đúng vị trí. Không có biến chứng. Kết luận: Sự kết hợp hình ảnh nội soi, thính lực đồ và Ct scan đem đến chẩn đoán chính xác bệnh và định hướng can thiệp đúng. Kết hợp nội soi và kính hiển vi có thể giải quyết sạch bệnh tích, an toàn, cùng với phục hồi chức năng tai 1 thì hiệu quả trong điều trị bệnh lý cholesteatoma bẩm sinh cũng như mắc phải. Xương con tự thân có thể chỉnh hình thuận lợi, phục hồi sức nghe tự nhiên và giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân.2025-07-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/239TỔNG QUAN HIỆU QUẢ GIẢM NHIỄM KHUẨN VỊ TRÍ PHẪU THUẬT BẰNG VIỆC TẮM BẰNG CHLORHEXIDINE GLUCONATE2025-11-07T15:05:27+00:00CN Phạm Văn Hiệptranghiep92@gmail.comCử nhân điều dưỡng Nguyễn Bích HườngCao đẳng Điều dưỡng Đinh Thị Kim AnhCao đẳng Điều dưỡng Hoàng Ngọc PhươngCao đẳng Điều dưỡng Phan Thị HoàiCao đẳng Điều dưỡng Lê Tự Minh HoàngCao đẳng Điều dưỡng Phạm Thị HằngCao đẳng Điều dưỡng Nguyễn Du KhánhMục tiêu: Tổng quan về hiệu quả của tắm sát khuẩn bằng Chlorhexidine Gluconate (CHG) tiền phẫu trong việc giảm tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ (NKVM) và/hoặc giảm tải lượng vi khuẩn trên da. Phương pháp: Tổng quan luận điểm. Kết quả: Trong 44 bài viết có liên quan, 3 bài phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn được đưa vào nghiên cứu. Các nghiên cứu này được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau, đều cho thấy hiệu quả hiệu quả của tắm sát khuẩn bằng Chlorhexidine Gluconate (CHG) tiền phẫu trong việc giảm tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ Kết luận: Tắm CHG tiền phẫu giúp giảm đáng kể vi khuẩn trên da, cho thấy tiềm năng phòng ngừa NKVM. Tuy nhiên, bằng chứng về hiệu quả trực tiếp trong việc giảm tỷ lệ NKVM còn chưa nhất quán giữa các nghiên cứu.2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/269BÁO CÁO CA LÂM SÀNG: SARCOM CƠ VÂN VÙNG ĐẦU CỔ Ở TRẺ EM – MỘT TRƯỜNG HỢP ĐIỀU TRỊ ĐA MÔ THỨC2025-11-06T14:42:08+00:00BS CK1 Nguyễn Mạnh DuyMdnguyenmanhduy@gmail.comNguyễn Phương NguyênNguyễn Phương NguyênLương Hoàng TiênMã Nghi Hảidr.manghihai@gmail.comGiới thiệu ca bệnh: Sarcom cơ vân (Rhabdomyosarcoma – RMS) là loại bướu ác tính phần mềm thường gặp nhất ở trẻ em, trong đó khoảng 35% xuất hiện tại vùng đầu cổ. Việc điều trị bướu tại vị trí này là một thách thức lớn do đặc điểm giải phẫu phức tạp và nguy cơ ảnh hưởng đến chức năng. Thêm vào đó, nhóm bệnh nhân thuộc phân nhóm nguy cơ cao có tiên lượng xấu hơn. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhi 11 tuổi, RMS vùng khẩu cái – hốc mũi trái, nguy cơ cao. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt u, sau đó tiến triển tại chỗ trong quá trình hóa trị phác đồ IVADo. Sau khi hội chẩn liên chuyên khoa, bệnh được điều trị xạ trị triệt để và hóa trị phác đồ VDC/IE. Sau 23 tháng theo dõi, bệnh không tái phát và chưa phát hiện biến chứng do điều trị. Kết luận: Tiếp cận đa mô thức, cá nhân hóa đóng vai trò quan trọng trong điều trị sarcom cơ vân vùng đầu cổ nguy cơ cao ở trẻ em, giúp kiểm soát bệnh và bảo tồn chức năng cơ quan.2025-12-15T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/265ỨNG DỤNG VÀ KẾT QUẢ LÂM SÀNG CỦA ỐNG DUY TRÌ LỖ MỞ KHÍ QUẢN DẠNG ÁP THÀNH MONTGOMERY®2025-11-03T02:13:14+00:00Bác sĩ Võ Ngọc HoànBác sĩ Huỳnh Thị Kim HồngBác sĩ Trương Thị Lệ NaTiến sĩ Lý Xuân Quangquang.lx@umc.edu.vnĐặt vấn đề: Ống duy trì lỗ mở khí quản dạng áp thành là một giải pháp thay thế cho canuyn mở khí quản, tuy nhiên dữ liệu về ứng dụng lâm sàng tại Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, chỉ định, kết cục và biến chứng khi sử dụng dụng cụ này. Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu loạt ca trên 18 bệnh nhân được đặt ống duy trì tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM từ 07/2023 đến 07/2025. Kết quả: Các chỉ định chính bao gồm sẹo hẹp thanh môn/hạ thanh môn (33,3%), liệt khép dây thanh hai bên (22,2%) và làm “bước trung gian” trong quy trình rút ống (44,4%). Về kết cục, có 9/18 bệnh nhân rút ống thành công và 7/18 bệnh nhân tiếp tục sử dụng. Thời gian trung vị để rút ống thành công là 2,5 tháng. Biến chứng thường gặp nhất là mô hạt (11,1%). Kết luận: Ống duy trì là một dụng cụ linh hoạt cho nhiều chỉ định lâm sàng, với kết cục điều trị thành công cao và biến chứng có thể quản lý được.2025-12-15T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/272ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI CHỈNH HÌNH VÁCH NGĂN MŨI BẰNG KHOAN HUMMER KẾT HỢP CHỈNH HÌNH CUỐN MŨI DƯỚI2025-12-15T14:21:00+00:00Chu Văn Đứcbschuduc78@gmail.comNguyễn Tấn PhongĐặt vấn đề: Đánh giá hiệu quả và an toàn phẫu thuật nội soi chỉnh hình vách ngăn mũi bằng khoan Hummer kết hợp chỉnh hình cuốn mũi dưới. Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá kết quả phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn bằng khoan Hummer kết hợp chỉnh hình cuốn mũi dưới. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: gồm 76 bệnh nhân, được phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Thiện Nhân (2/2024-2/2025). Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp. Kết quả: điểm NOSE giảm từ 16.2 ± 2.1 xuống 2.1 ± 0.8 sau 3 tháng (cải thiện 84.6%). 100% bệnh nhân đạt NOSE ≤5. Điểm VAS nghẹt mũi giảm từ 8.7 xuống 2.0, nhức đầu giảm 86.2%. Biến chứng thấp: 2.6% chảy máu, không có thủng vách ngăn/nhiễm trùng. Thời gian phẫu thuật: 35-45 phút. Kết luận: Phẫu thuật dị hình vách ngăn bằng khoan Hummer hiệu quả cao cải thiện >84% triệu chứng. An toàn, tỷ lệ biến chứng <3%. Thời gian phẫu thuật và hồi phục ngắn. Nên áp dụng cho bệnh nhân lệch vách ngăn phức tạp, cần bảo tồn niêm mạc.2026-01-15T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/271PEMBROLIZUMAB TRONG ĐIỀU TRỊ BƯỚC MỘT UNG THƯ TẾ BÀO VẢY VÙNG ĐẦU CỔ TÁI PHÁT, DI CĂN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH2025-11-06T02:29:36+00:00BS CK1 Nguyễn Mạnh DuyMdnguyenmanhduy@gmail.comNguyễn Tuấn KhôiTrần Trí DũngTrần Anh Thùy DươngLương Hoàng TiênMã Nghi Hảidr.manghihai@gmail.comMở đầu: Pembrolizumab là một thuốc chẹn chốt kiểm miễn dịch PD-1, đã được chấp thuận trong điều trị bước một cho bệnh nhân ung thư tế bào vảy vùng đầu cổ (HNSCC) tái phát/di căn, giúp cải thiện thời gian sống còn toàn bộ. Hiện nay, dữ liệu điều trị phác đồ này tại Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ đáp ứng, thời gian điều trị và độc tính từ dữ liệu thực tế của bệnh nhân HNSCC tái phát/di căn điều trị bước một phác đồ có Pembrolizumab tại Bệnh viện Ung bướu TP. HCM. Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca. Gồm 24 trường hợp được chẩn đoán HNSCC tái phát hoặc di căn được điều trị bước một với Pembrolizumab (kết hợp hóa trị hoặc đơn trị CPS≥1), từ 2 chu kỳ trở lên tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ 01/08/2023 đến 01/05/2025. Kết quả: Đa số BN là nam, hút thuốc lá (2/3 BN), tuổi trung bình là 56,1 và lớn nhất 88 tuổi. Tỷ lệ BN ECOG 2 là 16,7%. Có 79,2% BN được xét nghiệm PD-L1 và 70,9% BN có CPS ≥1. Tỷ lệ BN phát hiện giai đoạn IVc khi chẩn đoán lần đầu chiếm 16,7%. Về lựa chọn phác đồ điều trị, có 1 BN điều trị Pembrolizumab đơn trị. Trong số 23 BN điều trị Pembrolizumab kết hợp hóa trị, phác đồ bộ đôi chứa Cisplatin chiếm 39,1%. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ là 47%. Trung vị thời gian điều trị là 7 tháng (95% CI: 5,1-8,9 tháng). Về độc tính, có 8,3% BN giảm bạch cầu hạt độ 3 và 4,2% BN thiếu máu độ 2. Nôn ói, viêm gan độ 1-2 cùng chiếm 12,5%. Suy thận độ 3 có 1 BN và có 1 BN suy giáp độ 1. Kết luận: Dữ liệu sớm của phác đồ có Pembrolizumab trong điều trị bước một HNSCC tái phát/di căn tại Bệnh viện Ung bướu TP HCM cho thấy đáp ứng cao hơn và thời gian điều trị kéo dài hơn. Tuy nhiên, cần mở rộng nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và theo dõi lâu dài để có bức tranh toàn cảnh và đẩy đủ về hiệu quả và tính an toàn của liệu pháp miễn dịch trên thực tế.2025-12-15T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/306CĂNG THẲNG NGHỀ NGHIỆP TRONG CÔNG VIỆC CỦA ĐIỀU DƯỠNG: MỘT NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN2025-11-03T02:04:09+00:00CN Phạm Văn Hiệptranghiep92@gmail.comCử nhân điều dưỡng Nguyễn Bích Hườngnguyenbichhuong11897@gmail.comMục tiêu: Tổng quan về căng thẳng nghề nghiệp trong công việc điều dưỡng. Phương pháp: Tổng quan luận điểm. Kết quả: Trong 71 bài viết có liên quan, 6 bài phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn được đưa vào nghiên cứu. Các nghiên cứu này được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau, đều cho thấy tỷ lệ điều dưỡng viên báo cáo công việc căng thẳng rất cao. Kết luận: Mức độ stress nghề nghiệp trong điều dưỡng viên là một vấn đề phổ biến và nghiêm trọng trên toàn cầu, với tỷ lệ điều dưỡng viên báo cáo công việc căng thẳng rất cao. Các yếu tố gây căng thẳng chính như khối lượng công việc lớn, thiếu hụt nhân sự và mối quan hệ liên nhân sự.2025-12-15T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/308BÁO CÁO CA LÂM SÀNG : U NHẦY XOANG TRÁN XÂM LẤN NỘI SỌ2025-11-03T02:07:56+00:00Thạc sĩ.BS. Hà Công Chánhchanhhacong@gmail.comVũ Thị Thu ThảoBùi Đức LânTrương Thái BìnhHoàng Văn NinhNguyễn Thị Yến NhiĐặt vấn đề: U nhầy xoang trán là những khối u giả nang, tổn thương lành tính, thường phát triển chậm và có khả năng xâm lấn cơ quan xung quanh. Thường xuất hiện sau viêm mũi xoang mạn tính không được điều trị, tiền sử đã phẫu thuật mũi xoang trước đây, hay do chấn thương. Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán và điều trị u nhầy xoang trán trái xâm lấn nội sọ bằng phẫu thuật nội soi mũi xoang. Giới thiệu ca bệnh: Bệnh nhân 60 tuổi nhập viện vì đau đầu vùng trán-hốc mắt bên trái với kết qủa chụp cắt lớp vi tính (CT) có cản quang có hình ảnh u nhầy xoang trán trái huỷ sọ não. Bệnh nhân được hội chẩn với bác sĩ Ngoại thần kinh, sau đó thống nhất điều trị bằng phẫu thuật nội soi. Kết quả: Sau phẫu thuật nội soi mũi xoang mở rộng xoang trán (Draf IIb), bệnh nhân tái khám có vết mổ lành tốt, giảm triệu chứng đau đầu vùng trán và hốc mắt bên trái. Kết luận: U nhầy xoang trán cần được phát hiện và phẫu thuật sớm để tránh các biến chứng nặng nề như xâm lấn sọ não và hốc mắt. Chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ góp phần chẩn đoán và định hướng cho phẫu thuật nội soi hay đường ngoài hoặc kết hợp cả hai.2025-12-15T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/328BỆNH LẬU HỌNG: KỸ NĂNG ĐIỀU DƯỠNG TRONG KHAI THÁC TIỀN SỬ TÌNH DỤC VÀ PHÒNG NGỪA TÁI PHÁT2025-12-14T09:08:49+00:00Nguyễn Thị Kiều TrangCN Phạm Văn Hiệptranghiep92@gmail.comNguyễn Bích HườngTS Phùng Thị HòaMục tiêu: Mô tả một trường hợp bệnh lậu họng điển hình do quan hệ tình dục đường miệng, và đề xuất tăng cường vai trò điều dưỡng chuyên khoa Tai Mũi Họng trong sàng lọc và tư vấn phòng ngừa. Phương pháp: Nghiên cứu ca bệnh. Kết quả: Nhờ sự can thiệp của điều dưỡng chuyên khoa qua việc khai thác tiền sử tình dục chi tiết, bệnh nhân được chẩn đoán xác định là lậu họng. Bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp kháng sinh kép. Ca bệnh này nhấn mạnh rằng nhiễm trùng hầu họng thường không có triệu chứng và hoạt động như một ổ chứa mầm bệnh tiềm năng. Kết luận: Vai trò của điều dưỡng trong việc thu thập tiền sử tình dục là chìa khóa để chẩn đoán đúng bệnh lậu họng và kiểm soát sự lây lan bệnh.2026-01-12T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/334TỔNG QUAN VỀ CẤY TAI GIỮA2025-12-14T10:34:28+00:00PGS Nguyễn Tuyết Xươngxuong.nguyen@gmail.comTiến sĩ Nguyễn Tuấn SơnNguyễn Như ĐuaTiến sĩ Phùng Thị HòaĐiếc dẫn truyền và điếc hỗn hợp là những rối loạn thính lực phổ biến, gây ảnh hưởng đáng kể đến khả năng giao tiếp, học tập, lao động và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Trong nhiều trường hợp, phương pháp trợ thính truyền thống không đạt hiệu quả do tổn thương tai giữa mạn tính, dị tật xương con tai, hoặc các biến chứng viêm tai mạn tính. Cấy tai giữa (Middle Ear Implant – MEI) là một tiến bộ quan trọng trong điều trị các dạng điếc dẫn truyền và hỗn hợp, giúp cải thiện khả năng nghe bằng cách truyền hoặc khuếch đại rung động âm thanh trực tiếp tới xương con tai hoặc màng nhĩ. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng MEI có thể cải thiện thính lực từ 20–35 dB HL, tăng khả năng nghe tần số cao và nâng cao chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân không đáp ứng tốt với trợ thính truyền thống. Tuy nhiên, hiệu quả của cấy tai giữa phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại tổn thương tai giữa, tuổi bệnh nhân, thời gian mất thính lực và kỹ thuật phẫu thuật. Ngoài ra, tai biến phẫu thuật và các biến chứng hậu phẫu vẫn là mối quan tâm quan trọng trong quá trình lựa chọn bệnh nhân và thực hiện cấy. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả lâm sàng, phục hồi thính lực, tai biến và chất lượng cuộc sống sau cấy tai giữa là cần thiết để cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn bệnh nhân, hướng dẫn phẫu thuật và cải thiện kết quả điều trị. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu tổng quan và phân tích kết quả cấy tai giữa tại các bệnh viện chuyên khoa tai mũi họng, từ đó đề xuất hướng dẫn thực hành lâm sàng phù hợp.2026-01-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Namhttps://tapchitaimuihong.vn/index.php/tmh/article/view/343KẾT QUẢ THÍNH LỰC SAU PHẪU THUẬT CHỈNH HÌNH XƯƠNG CON BẰNG VẬT LIỆU TỰ THÂN Ở BỆNH NHÂN VIÊM TAI GIỮA MẠN TÍNH2025-12-29T14:02:37+00:00TS Đào Trung DũngNgô Thu Trangnttrang297@gmail.comTrần Hà LinhMục tiêu: Đánh giá kết quả sau phẫu thuật chỉnh hình xương con bằng các vật liệu tự thân ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang trên 38 bệnh nhân (n= 39 tai). Kết quả: Triệu chứng cơ năng chính bao gồm nghe kém (89,7%), chảy mủ tai (86,3%). Tổn thương trên nội soi chủ yếu là tổn thương thượng nhĩ (76,9%). Trong mổ, tổn thương cholesteatoma chiếm đa số (64,1%); tổn thương xương đe đơn độc chiếm 22/39 tai; tổn thương cả 3 xương con chiếm 4/39 tai, vôi hóa và cứng khớp các xương con chiếm 6/39 tai. Vật liệu tự thân được sử dụng để tái tạo hệ thống truyền âm chủ yếu là xương (27/39) chiếm 69,2%. Trụ dẫn được sử dụng bao gồm thân xương đe (17/39), đầu xương búa (5/39), mảnh xương chũm (5/39). Sau phẫu thuật, tại các thời điểm dưới 6 tháng sau mổ, từ trên 6 tháng sau mổ, thính lực đơn âm cho thấy sự cải thiện rõ rệt về ngưỡng nghe đường khí và chỉ số khoảng cách khí–xương (ABG), đồng thời không ghi nhận sự thay đổi ngưỡng nghe đường xương tại tất cả các tần số. Kết luận: Phẫu thuật chỉnh hình xương con bằng vật liệu tự thân mang lại hiệu quả cải thiện thính lực rõ rệt, đồng thời bảo tồn ngưỡng nghe đường xương ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính.2026-01-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Tai Mũi Họng Việt Nam